Tưởng niệm Đặng Ngọc Khoa

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (2)   
 

KHOẢNH KHẮC

Tưởng niệm Đặng Ngọc Khoa

          "Quá khứ không phải là quãng thời gian người đời đã sống mà là những khoảnh khắc mà chúng ta không thể quên, không bao giờ quên"- Đó là một ý tưởng được viết trong bộ phim về thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, mà tác giả lời bình là người bạn của tôi, cũng là bạn của anh Khoa - nhà văn Bùi Quang Huy.

Tôi thích câu nói ấy, bởi thời gian bươn chải trên đường đời, dung nạp quá nhiều bụi bặm trần gian, tôi đã phải tập quên nhiều thứ tình cờ hay hữu ý đi vào trong đời mình, huống hồ những chuyện mươi, mười lăm năm qua.

Tôi bay về Đà Nẵng đứng bên linh cửu anh lặng lẽ khóc, những khoảnh khắc mờ ảo chập chờn của tháng ngày trên miền đất đỏ bazan Long Khánh hiện về. Trong lúc bạn bè thân hữu của anh đọc thơ anh, hát cho anh nghe. Tôi lẩm bẩm đọc câu thơ mà ngày xưa, tôi vẫn thường hay đọc cho anh nghe "Đất nặng tình nên đất nhuộm màu son và cũng làm nên bao điều ly biệt". Những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trần Thanh Hiệp, khi ông ‘tiểu ẩn" ở Long Khánh - Nơi Khoa cũng về "đại ẩn" một quãng thời gian ngắn.  Tôi ngồi cùng anh ở quán cóc vỉa hè trước nhà văn hóa nhìn qua bệnh viện, để suy gẫm về thân phận con người, nói những chuyện vu vơ về thơ ca. Nhìn những con người chân lấm tay bùn vào bệnh viện, cả người họ sẫm màu đất đỏ BaZan, nhìn những chiếc băng ca trắng đưa ra khỏi nhà vĩnh biệt anh buồn rầu đọc: " Ta rồi chết giữa mùa màng. Mẹ ta đi gặt bàng hoàng: Khoa ơi!" Tôi khẽ rùng mình. Anh viết về những sai sót của bệnh viện, rồi anh gặp tai nạn nghề nghiệp về một chi tiết trong bài viết ấy, chi tiết sai sót vì anh quá tin một người cung cấp thông tin. Tôi phàn nàn: "Anh quá tin người". Anh nạt: "Cho dù cuộc đời có trăm người phản trắc, thì tôi vẫn tin rằng bản chất con người là tốt."Tôi ngại tranh luận cùng anh về báo chí, bởi bao giờ tôi cũng thua cuộc, anh say sưa sôi nổi nhiệt tình với xã hội, nhiệt tình với cuộc đời. Thoạt nhìn dáng "hầm hố" của anh, đọc những bài phóng sự điều tra nảy lửa của anh, người ta dễ nhầm lẫn anh là nhà báo chuyên chuyện "đấm đá", nhưng không phải vậy, tố chất văn chương của anh quá nhiều, "nhà văn là những người biết cúi xuống tìm kiếm thân phận con người", thời gian ở Long Khánh là quãng thời gian mà anh luôn cúi xuống để tìm kiếm thân phận con người. Những đứa trẻ trong rừng cao su, rồi những phận người đau tim, nghèo khổ, ung thư ... được anh đưa lên mặt báo để bạn đọc có cơ hội chia sẻ cùng đồng loại.

      Từ một nhà giáo, rồi viết văn, rồi tập viết báo, tôi ngây ngô và nhút nhát trước cuộc đời, những bài báo tôi viết ra nhợt nhạt thiếu lửa cho tới khi gặp anh. Tôi luôn đến nhà anh chơi đùa với hai "thiên thần" của anh. Tôi đến trong tư thế rụt rè của cậu học trò nhỏ để mong được nghe anh nói về nghề báo. Anh đưa tôi vào cuộc với các phóng sự xã hội, điều tra, những bài viết của tôi trền Tiền Phong lúc ấy đều có ngọn lửa từ Đặng Ngọc Khoa truyền qua.

"Đi thôi!" - Anh thơm đôi má bầu bỉnh của con gái và nói với tôi. Cô con gái rượu bây giờ là thiếu nữ đứng bên anh, nước mắt cứ lặng lẽ trào ra trong đôi mắt u buồn như những buổi chiều mưa trên miền đất đỏ ngày xưa.

"Đi đâu" - Tôi hỏi.

"Đồng bào Chơ Ro đang đói trên rừng lá, đi viết bài kiếm gạo về cứu trợ cho họ, kiếm tiền làm trường cho con họ học"

"Đi!"

"Đi đâu?"

" Diêm dân Bà Rịa, mất mùa muối, muối rẻ, bà con đang khổ"

Mười một giờ khuya, trời mưa tầm tả,  mưa miền đông ào ạt như "cầm chỉnh mà đổ", tôi cuộn tròn trong chăn, anh dựng tôi dậy bảo:

"Đi!"

          "Đi đâu?"

"Đi làm báo!"

          "Trời!"- Tôi kêu lên.

" Cầu gãy ngoài Bình Thuận, lũ về hàng trăm ngôi nhà bị cuốn trôi, ở đó mà nệm ấm chăn êm, làm báo chi lạ rứa. Gọi điện về tòa soạn đi, bảo chờ tin cầu gãy để mai xe miền Bắc khỏi vô, mất công bà con. Mặc áo mưa vào lên đường nhìn cho tận mắt rồi đưa tin viết bài" - Anh ra lệnh tôi không kịp thở, giọng nói anh đầy quyền uy, một thứ quyền uy của trái tim.

Đêm hôm ấy mưa mờ mịt. Khoa ơi anh nhớ không? - Tôi thì thầm trước linh củu anh, những khoảnh khắc mà không bao giờ tôi quên được. Quá khứ của tôi và anh phải chỉ là sự giới hạn của thời gian khoảng mười năm ở Long Khánh mà dường như kéo dài biên độ không gian đến tận bây giờ và sau này, nếu "quá khứ" đúng như định nghĩa của Bùi Quang Huy.

Tôi lại khóc - những giọt lệ âm thầm.

NGỔN NGANG ĐỒNG ĐẤT ĐỒNG NAI - NGUYỄN ĐỨC THIỆN (TÂY NINH)

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
 Đọc tập truyện ngắn : NHƯ LÀ CỔ TÍCH của Nguyễn Một -nxb Hội nhà văn 2005. 
   

Cho đến nay Nguyễn Một vẫn sống ở Đồng Nai, có lẽ vì thế mà những tác phẩm của anh mang rất rõ dấu ấn vùng đất mà anh đang sống. Cuộc sống của người Đồng Nai hiện dần, hiện dần trong từng trang sách của Nguyễn Một. Một Đồng Nai xưa với bao nhiêu vất vả, gian nan. Đồng Nai một thời đánh giặc và một Đồng Nai hôm nay đang xây dựng với trăm mối lo toan. Ngay từ những trang đầu tập sách với truyện ngắn LỬA BÊN SÔNG, ta đã gặp ngay một dòng họ lưu lạc từ xứ nghèo Miền Trung vào Đồng Nai tìm đất sống. Đương nhiên, bất cứ một cuộc di chuyển nào cũng có ly do. Nguyễn Một đã tìm cho dòng họ Nguyễn một lý do thực chính đáng: bị áp bức ở đất quê mà phải trốn tránh. Trong cuộc phiên lưu vào phía Nam tìm đất sống ấy, ông tổ họ Nguyễn ở Đồng Nai đã dừng lại bên một con sông. Con sông ấy đã vun bồi nên mảnh đất màu mỡ và chuộng người. Nổi chìm một kiếp người mà nên được một dòng họ. Nhưng chính dòng họ ấy cũng phải nổi chìm mới có được cuộc sống hôm nay. LỬA BÊN SÔNG thực sự là khúc ca bi tráng về một dòng họ đi mở đất trên đất Đồng Nai.

Nhân vật trong các truyện ngắn của Nguyễn Một có những người của thuở xa xưa và người của hôm nay, người của cuộc kháng chiến thần thánh và người của lao động dựng xây, không thiếu vắng những nhân vật dưới đáy xã hội và những kẻ ngang tàng, bậm trợn. Bao thân phận, bao nhiêu kiếp người được dồn nén trong một tập truyện ngắn của Nguyễn Một. Phong phú về thực tế mà Nguyễn Một đã đưa được nhiều nhân vật có những số phận khá đặc biệt vào những trang sách của mình. Có một điều đáng nói là tất cả các nhân vật trong truyện của Nguyễn Một đều có một bề dày số phận. Một anh công nhân ở trong khu công nghiệp phải có một chuỗi ngày gian nan vất vả ở quê nhà. Với quyết tâm tìm kiếm sự dư giả nhưng cũng sẵn sàng bày tỏ tinh thần thượng võ bênh vực người yếu. Để rồi mất việc và phải bắt đầu từ đầu cho cuộc tìm kiếm cách thoát nghèo. Nghề truyền thống đã cứu giúp anh. Chỉ với những cây tre quen thuộc mà anh tạo ra những sản phẩm có thể xuất khẩu và người tiếp sức cho anh không ai khác, chính là người anh đã thách đấu để bảo vệ bạn mình. Một thương gia nước ngoài. Trong một truyện ngắn thôi mà chất chứa rất nhiều sự kiện, khiến cho chất liệu trong truyện bề bộn hẳn lên, trong đó không thiếu một tình yêu hé mở  (TRƯỚC MẶT LÀ DÒNG SÔNG). Một người lính đã có chuỗi ngày tham gia đánh giặc, gặp người con gái mình yêu sau đó, yêu thương mà nên vợ nên chồng sau phút yêu đương trong khói lửa bom đạn, nhưng đánh đổi là phải giã từ cuộc chiến đấu. Nếu chỉ dừng chuyện ở đó thôi thì chuyện không thành truyện. Sau đó là cuộc Chiến đấu gần như đơn độc để bảo vệ mảnh đất quê hương, bảo vệ cả vùng căn cứ. Anh hy sinh, Nguyễn Một vẫn chưa chịu dừng, anh còn đi tiếp để tìm cho được thế hệ tiếp nối của con người dũng cảm kia ( TRUNG QUÂN) .

Một nhân vật khác, đó là Tám Giái và Chín Cu trong CHUYỆN NGƯỜI, CHUYỆN MA. Nhân vật rất phụ trong truyện là một người đàn bà bị bệnh cùi có đứa con xinh đẹp. Tám Giái và Chín Cu xuất hiện gần như trong hết câu chuyện lại tạo ra bao nhiêu chuyện ly kỳ xung quanh người đàn bà kia, cho đến khi bà chết được hai anh em hoả thiêu, người ta lại có cảm giác bà mới là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Họ phải phớt lờ bao nhiêu chuyện đơm đặt của những người xung quanh. Hai con người bí ẩn, có những tình cảm bí ẩn nhưng thương nhau rất mực chỉ để bảo vệ một người đàn bà xinh đẹp nhưng bị căn bệnh vào lúc đó người ta ghẻ lạnh. Khi người đàn bà chết, họ mới bỏ xứ mà đi. Nguyễn Một thêm một lần nữa theo chân họ để lần tim ra nơi họ sống sau này. Những thân phận người trong truyện của Nguyễn Một vì thế mà dày lên khiến người đọc cứ phải theo hoài cho đến hết.

Trở lại với truyện ngắn đã nhắc ở đầu bài viết này: LỬA BÊN SÔNG. Người đàn ông trong dòng họ Nguyễn đến đất Đồng Nai sinh sống có một phần đời riêng. Hậu duệ của ông ta hôm nay cũng có thân phận thật trớ trêu. Ông ta đã phải trải mất thăng trầm mới gìn giữ được mảnh đất của tổ tiên để lại. Một dòng đời mấy thế hệ trong một truyện ngắn khiến ta có cảm giác quá tải. Tuy nhiên, do cách viết khá hoạt nên vẫn có sự tách bạch rõ ràng và thể hiện rất rõ dụng tâm của tác giả: con người cần có lửa để sống, nhưng chính lửa trong mỗi con người mới thực sự cần cho sự tồn tại trước mắt và tồn vinh lâu dài. Nhân vật trong truyện ngắn PHO TƯỢNG TÌNH YÊU  cũng có sự đậm đặc thường có trong truyện ngắn của Nguyễn Một. Họ có tình yêu khi còn tuổi trẻ. Tình yêu dang dở mỗi người có con đường riêng. Người đàn bà bị ép duyên. Người đàn ông phải lấy người đàn bà khác. Nguyễn Một đã cho những trang viết của mình theo suốt cuộc đời của họ. Cho đến già, cho đến chết, để tìm cho đến cái kết có hậu của truyện ngắn. Hai người đàn bà trao lại kỷ vật cho nhau, nhưng xét cho cùng cũng chỉ là một kỷ vật dành cho một người. Đó là người đàn bà mà người đàn ông yêu nhất, yêu hết cuộc đời mình. Còn người đàn bà kia thì hy sinh cả một đời mình cho người mình yêu nhất, mặc dù biết rõ trái tim người đàn ông luôn dành cho người đàn bà khác.

           

Tất cả những nhân vật mà Nguyễn Một xây dựng trong tập truyện ngắn NHƯ LÀ CỔ TÍCH rất gần với cuộc sống thực tế của người Đồng Nai. Có những trang viết mang tính sử thi, có những trang viết mang tính thời sự, không thiếu những trang viết đằm thắm tình người. Nguyễn Một tỏ ra có một sự ưu ái khá đặc biệt với những thân phận trắc trở. Một người đàn bà cùi sống chui nhủi như một bóng ma. Một người đàn ông cũng mắc bệnh cùi con gái phải lao vào lửa cứu cha vì làng bắt phải chết theo tục lệ và cô phải gánh chịu nỗi đau ê chề của cha và lưu lạc sống ở nơi khác. Một anh ăn mày không tên. Một người thiếu phụ bị chồng bỏ rơi. Một anh công nhân thất nghiệp. Đến cả một tội phạm hình sự trong truyện ngắn: KẺ VÔ HỌC, Nguyễn Một vẫn viết ra bằng sự cảm thông nhất định. Anh ta giết người ư? Có những chuyện trớ trêu khiến anh phạm tội, khiến anh chán ghét con người. Nhưng rồi anh ta lại được chính con người chỉ ra được sự cần thiết phải sống chung trong cộng đồng. Rõ ràng trong khi viết Nguyễn Một đã bỏ khá nhiều tâm trí để xây dựng cho trọn vẹn những nhân vật của mình. Anh không muốn dừng lại khi chưa cho bạn đọc thấy rõ chân dung những con người mà mình tạo dựng lên trong tác phẩm. Nhân vật của Nguyễn Một có lúc rất thực, nhưng cũng có lúc mơ mơ, ảo ảo.

           

Cùng với những con người có những số phận dày dặn, Nguyễn Một còn dành khá nhiều tâm huyết khi viết về đất Đồng Nai. Con sông Đồng Nai, vùng đất đỏ bazan với những rừng cà phê... Phong cảnh Đồng Nai trong những trang viết của Nguyễn Một khá sinh động, nhờ đó mà tác phẩm của anh không thể trộn lẫn được với những vùng đất khác. Cùng với cảnh vật đồng Nai và những nhân vật trong tập truyện ngắn NHƯ LÀ CỔ TÍCH , Nguyễn Một đã làm được một điều thực ý nghĩa: tạo ra vóc dáng riêng cho một vùng quê đồng thời cũng tạo được vóc dáng riêng của một người viết. Việc này không dễ mấy ai làm được. Từ vóc dáng riêng ấy mà góp phần vào nền văn hoá chung một bản sắc riêng. Người đọc cũng nao lòng mỗi khi Nguyễn Một khắc hoạ về miền Trung, nơi đầy nằng, gió và cái nghèo...

           

Vẫn có những điều cần nhắc đến khi đọc Nguyễn Một. Người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng thường kể những câu chuyện có hậu. Chuyện có hậu làm hài lòng những bạn đọc thông thường. Có khá nhiều truyện trong tập NHƯ LÀ CỔ TÍCH của Nguyễn Một đều có một kết thúc có hậu. Một hoạ sĩ muốn có tác phẩm lớn về con người lại sống bên cạnh một cây bằng lăng ráng tồn tại sau một trận bom ngạt và một gã hành khất không tên thì người đọc có thể đoán nhất định anh ta sẽ có một tác phẩm chính là gã ăn mày và cây bằng lăng kia. Có những cái kết thúc có hậu khác như: mười sáu tuổi hứa sẽ tìm cho được cô con gái con người đàn bà cùi, thì cuối truyện là phải tìm được. Ông già trong dòng họ Nguyễn cuối cùng cũng đòi lại được đất đai và giàu có nhờ trồng trọt... Khi đọc riêng lẻ từng truyện bạn đọc có thể không để ý, nhưng khi tập hợp lại thì nó trở thành cái nếp cho người đọc có thể đoán nhận ngay đầu truyện như thế, kết thúc sẽ ra sao. Nói một cách đơn giản hơn: truyện của Nguyễn Một được chuẩn bị khá kỹ về cốt truyện do đó thường để lộ ra sự sắp đặt của tác giả. Người viết dấu được sự sắp đặt truyện của mình càng kỹ, càng tốt, càng hấp dẫn người đọc hơn. Chúng ta vẫn chấp nhận những truyện ngắn kết thúc có hậu, song khi đưa vào một tập truyện nên tránh có nhiều truyện có những kết thúc như thế để bớt đi sự đơn điệu trong một tác giả.

           

Thêm một lần nữa khẳng định tập truyện ngắn NHƯ LÀ CỔ TÍCH, với 16 truyện ngắn, trong 250 trang in, Nguyễn Một đã mở ra cho chúng ta thấy một Đồng Nai bề bộn, ngổn ngang. Bề bộn, ngổn ngang người với nhiều tính cách, nhiều số phận khác nhau. Bề bộn, ngổn ngang đất, bề bộn ngổn ngang sông nước với bề bộn ngổn ngang công việc. Công việc của quá khứ xa xăm, của hiện tại và của tương lai. Điều này thể hiện vốn sống trong Nguyễn Một khá dồi dào, đó là điều kiện để Nguyễn Một sẽ còn có nhiều trang viết mới, những trang viết sung sức cho sau này.

Tây Ninh ngày 5-11-2005.

BÀI VIẾT CỦA TÔI VỀ BÀ TRẦN NGỌC SƯƠNG

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (5)   
 

Tôi viết bài này từ năm 2002 theo đề nghị của chị Nhung TBT báo Nông thôn ngày nay sau khi chị được giải "người phụ nữ ấn tượng Châu Á, Thái Bình Dương, sau hai lần được nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng. Bài viết đã đăng báo Nông thôn ngày nay số xuân. Hôm nay nghe tin chị bị truy tố  với lý do: "Từ năm 2000-2007, bà Trần Ngọc Sương với vai trò là giám đốc NTSH tiếp tục lập quỹ đen chi hết 9 tỷ đồng. Số tiền này dùng để chi cho quan hệ giao dịch, mua bán tài sản, quà biếu..." Đọc tin này tôi chợt nhớ lời kết trong truyện ngắn Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp: " Lẽ đời là thế vừa tàn nhẫn vừa phi lý, nhưng lẽ đời là thế đấy" Trong đời cầm bút của mình những điều tôi viết ra, có thể đúng mà cũng có thể sai, nhưng tôi chưa bào giờ hối hận những điều mình đã viết.

 "HOA SÂM ĐẤT" MIỀN CHÂU THỔ

Bút ký của Nguyễn Một

Có những giấc mơ thấy mình hoá bướm.

Tôi chỉ xin làm cỏ dưới chân người

(Thơ Trần Ngọc Tuấn)

Đêm rằm, trăng đồng bằng dịu dàng như cô thôn nữ xinh đẹp, bao trùm  nữ tính đằm thắm xuống cánh đồng quê. Tôi bước chậm trên con đường chính nông trường Sông Hậu, lắng nghe tiếng rì rào của hàng bạch đàn ngợp bóng trăng, con đường trải nhựa chạy song song với dòng kênh xanh, bên kia dòng kênh thẳng tắp là vườn xoài cát Hoà Lộc trĩu quả, ngạt ngào hương đưa. Gió từ dòng kênh mơn man da thịt, một mùi thơm nhè nhẹ lan toả, anh bạn người đồng bằng bảo tôi, đó là mùi hương của hoa sâm đất, loại cỏ dại mọc kín những con đường của miền quê Sông Hậu, quanh năm nở hoa tím, nép mình khiêm tốn dưới chân người. Các cô gái ở đây dùng rễ sâm đất nấu uống cho mát gan, đẹp da. Sau khi ngắm thoả thích, tôi nhắm mắt bình thản bước đi trong sự yên tĩnh, mỗi lần về đồng quê tôi thường có thú vui như vậy. Thật sung sướng khi được nhắm mắt để các giác quan còn lại tận hưởng hương vị ruộng đồng, cái hương vị nuôi lớn tâm hồn của người Việt suốt bốn ngàn năm qua. Đệm vào nhịp chèo khua là giọng hát mượt mà cất lên: " Em là con gái đất miền Tây, lớn lên trên quê mình xứ Hậu Giang, nắng mưa em không quản ngại. Ngày xưa cha em đi mở đất, má ở nhà má tần tảo má nuôi con, bây giờ em đã lớn khôn, xây tương lai làng quê êm ấm." Đây là bài hát của vợ chồng nhạc sĩ Lư Nhất Vũ- Lê Giang viết về chị Ba Sương, vị nữ anh hùng thời bình, giám đốc nông trường Sông Hậu. Bài hát này tôi đã nghe vài lần qua đài, nhưng không mấy ấn tượng, sao bây giờ mê hồn đến vậy, tiếng hát như vẳng lại từ thiên thai. Hay bài hát này nhạc sĩ viết riêng để các thôn nữ miền Tây hát trong đêm trăng giữa mênh mông sông nước. Tôi mở choàng mắt, bóng con thuyền lướt đi, mất hút giữa bàng bạc ánh trăng, chỉ còn tiếng hát vẳng lại. Ánh trăng rọi vào gian phòng thờ trong nông trường bộ, thấm đẫm đôi vai của Chị Ba Sương. Chị đang thắp hương trên bàn thờ của người cha quá cố, người anh hùng mở đất năm xưa, con người mà chị ngưỡng vọng suốt đời mình. Dù ông ra đi đã hai năm, nhưng bữa cơm nào người con gái hiếu thảo của ông cũng bới chén cơm đặt lên bàn thờ và ăn chén cơm ấy, lấy sức lao vào thực hiện ước vọng ông để lại . Cùng ăn với chị mấy bữa cơm, nhìn chị ăn ngon lành chén cơm cúng, tôi mới biết vì sao chị không ngần ngại trả lời "Cha tôi!", khi BTC bình xét trao cúp :" Phụ nữ ấn tượng Châu A- Thái Bình Dương 2002" đưa ra câu hỏi: "Ai là người có ảnh hưởng lớn nhất trong cuộc đời của bà?" Thấy sự kính trọng của chị dành cho người cha anh hùng tôi chợt nhớ câu nói của một nhà văn: "Người đàn bà thường yêu người đàn ông mang hình bóng của cha mình." Không biết có phải vì vậy không mà chị vẫn chưa tìm thấy người đàn ông nào có thể làm rung động trái tim của chị? Hơn nữa đời người trôi qua trên cánh đồng ngập một mét rưỡi trong nước ngày xưa, cùng cha mình xây nên làng quê trù phú hôm nay. Căn phòng nhỏ  trong văn phòng nông trường bộ chỉ đủ kê một chiếc giường và bàn làm việc. Xưởng mộc của nông trường mỗi năm xuất khẩu hàng ngàn sản phẩm bàn ghế từ gỗ bạch đàn, nhưng chị vẫn ngồi làm việc với chiếc bàn cũ kỹ của cha chị để lại.  Chị dồn hết năng lực của đời người cho cánh đồng bảy ngàn hecta để nuôi sống  hơn mười lăm ngàn con người. Gần ba ngàn gia đình thu nhập trên một trăm triệu mỗi năm, từ những mô hình bật ra trong đầu chị sau những đêm trằn trọc trên chiếc giường gỗ, không nệm ấm, chăn êm. Chị đã thực sự tìm thấy hạnh phúc của đời mình qua hạnh phúc của người khác. Sáng nay, trong lúc lang thang vào làng công nhân tôi bắt gặp một đám cưới, lân la trò chuyện với cô dâu. Khi nghe tôi nói chuyện chồng con của chị Ba Sương, cô ấy bảo: " Anh đừng lo, cô Ba có nhiều con lắm, chúng em coi cô như người mẹ thứ hai." Để giải thích cho lời khẳng định ấy, cô tâm sự: "Em sinh ra và lớn lên trên nông trường Sông Hậu, mười mấy năm nay được nông trường nuôi ăn học mà gia đình em không phải đóng đồng bạc nào, khi em vào đại học, cô Ba còn cho em mỗi tháng hai trăm ngàn đồng và mười sáu kg gạo, mà đâu phải mình em, ở nông trường có trên một trăm bạn đang theo học đại học, trung cấp đều được cô Ba thương như con ruột vậy. Tốt nghiệp tú tài em đậu vào hai trường đại học nhưng với lòng biết ơn và ngưỡng mộ cô Ba em quyết định theo học ngành nông học của Đại học Cần Thơ để được trở về phục vụ trên cánh đồng đã nuôi em khôn lớn" Chuyện của cô kỹ sư nông học trẻ, tôi đã được nghe thầy giáo Thanh Phong kể khi tôi vào thăm làng giáo viên của nông trường, mỗi giáo viên có khu vườn trên một ngàn mét vuông, có ao nuôi cá, có vườn cây ăn trái trĩu quả, lương và trợ cấp hàng tháng đủ để cho các thầy cô giáo an tâm lên lớp. Ở nông trường không có khái niệm dạy thêm, hơn ba ngàn học sinh trong những ngôi trường to lớn khang trang do nông trường xây dựng, không phải đóng bất kỳ khoản tiền nào, không xã hội hoá, không học phí, các em chỉ chuyên tâm vào việc học, ra trường có sẵn chỗ làm việc ngay trong nông trường. Thầy giáo Phong còn cho biết: " Dưới sự chỉ đạo của chị Ba, hiện nay toàn nông trường đào bốn ngàn cái mương để nuôi cá, trên những con mương ấy có người mùa rồi thu hoạch cá tôm được trên bốn trăm triệu đồng. Chạy dọc theo các con mương là hai ngàn cái bờ trồng bạch đàn và xoài, cây xà cừ, cả nông trường có một trăm năm chục ngàn cây xoài, một trăm ngàn cây xà cừ, năm triệu cây bạch đàn, chúng tôi tính phỏng chỉ trong vòng vài năm tới chỉ với từng ấy cây trồng ,nông trường đã thu vài ngàn tỷ." Suốt một ngày dạo chơi dưới những hàng bạch đàn rợp mát, trên các con đường thẳng tắp chia nông trường thành những ô bàn cờ, tôi nhận ra  cái mô hình RRRVAC ( Ruộng, rẫy, rừng, vườn, ao, chuồng) mà chị Ba Sương đưa ra, đã được những người công nhân ruộng đồng thực hiện thành công. Ở miền Đông những ngày đi thực tế tôi đau lòng khi thấy người nông dân loay hoay chặt rồi trồng đủ các loại cây, tôi đem chuyện này trao đổi với một người bạn nhà báo, anh bảo: "Người nào chỉ được cho nông dân trồng cây gì, nuôi con gì, người ấy là nhân tài thậm chí là kỳ tài của đất nước!" Ở đây bài toán đầy khó khăn của người nông dân đã được một người phụ nữ  chân đất tìm ra đáp số. Sáng nay gặp chị, tôi hoàn toàn không ngờ người phụ nữ đi chân trần tất bật chạy tới, chạy lui trong văn phòng nông trường bộ ấy là người phụ nữ được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng, được bình chọn một trong năm phụ nữ ấn tượng nhất châu Á- Thái bình dương. Cái vẻ nông dân đậm nét trong vóc dáng tần tảo, khó làm cho người mới gặp  hình dung ra người phụ nữ đã tốt nghiệp học viện kinh tế sau đại học ở Liên xô cũ, đang cai quản hàng chục ngàn con người, trong cái "tổng công ty" hơn chục ngành nghề. Suốt một buổi chiều, chị say mê nói với tôi về những dự án làm giàu cho nông dân, nào xuất khẩu gạo thông qua Hội nông dân Việt Nam, nào xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao, nào khu du lịch sinh thái, nào trồng bạch đàn bằng phương pháp cấy mô, giâm hom, nuôi ba ba, cá tra....Thành thật xin lỗi chị, những dự án đầy tính khả thi của chị lướt qua đầu tôi như một mớ bòng bong. Trong lúc chị nói, tôi lén nhìn vào đôi bàn chân mỏng manh như những thiếu nữ Trung quốc ngày xưa và tự hỏi: " Có phải đôi bàn chân này đã băng đồng lội ruộng để hướng dẫn nông dân trông lúa, trồng rau, rồi chính đôi bàn ấy đã bôn ba khắp bốn mươi quốc gia trên thế giới để tìm thị trường cho sản phẩm của người nông dân không? Còn đôi bàn tay bé nhỏ nổi đầy gân xanh ấy đã cắm cây cỏ lông chông thể nghiệm trên đồng ruộng sâu, để đưa bầy bò sữa hàng trăm con về đồng bằng. Bàn tay ấy đã được các lãnh đạo Đảng, nhà nước và nguyên thủ các nước thân mật bắt chặt để ngợi khen." Tôi còn tự hỏi: "Làm thế nào mà đôi bàn tay nhỏ bé ấy đã chống chọi với những khó khăn chồng chất để giữ gìn hạt ngọc trong chuổi ngọc Xã hội chủ nghĩa" Tôi nghe nói hồi năm 1993 nông trường muốn nổ tung lên vì những người đòi giải thể nông trường để trả đất cho nông dân, nhiều người từ các nơi đổ về chứng minh rằng cha ông họ ngày xưa là chủ của những mảnh ruộng ngập phèn trên lãnh thổ nông trường. Trong cơn sốt ấy, dân của nông trường lo lắng mất ngũ, mất ăn. Mềm dẻo mà cương quyết, cha con chị đã giúp họ hiểu ra và nhận tiền đền bù để nông trường tồn tại". Chị đã giải mã những câu hỏi trong đầu tôi bằng đôi mắt rực sáng đầy nghị lực. Lão nông Ba Châu nói với tôi : "Người dân ở đây gọi cô là cô Ba "bốn không", không chồng, không con, không nhà, không tài sản, tuổi con trâu nên suốt  đời tất bật lo cho mọi người như vậy đấy anh à. Nghe bảo ông Tổng thống nước Ghana bên châu Phi nói: Nước Ghana mà có ba người như bà Ba Sương thì bà ấy không có cơ hội nhập khẩu gạo vào nước mình".

Miên man với những chuyện biết về chị trong ngày ở nông trường làm cho tôi quên mình đã đi khá xa khỏi khu vực nông trường bộ, những bông hoa sâm đất đẫm sương đêm, vươn về phía ánh trăng, níu chân lữ khách, không hiểu sao tôi liên tưởng chị Ba như những bông hoa tím của cây  sâm đất mọc mênh mang trên vùng châu thổ sông Hậu này.

Vĩ thanh

 Thưa chị Ba, khi gặp chị, chị không muốn viết về mình, chị bảo hãy viết về nông trường, vì vậy mà tôi không dám hỏi gì về cuộc đời của chị. Nhưng tôi đến nông trường không phải với tư cách của một nhà báo, tôi rong ruổi đi tìm những dấu ấn về con người miền sông nước, vì vậy những tư liệu trong bài viết này tôi thu thập từ bà con nông dân trong nông trường Sông Hậu, nó chỉ một phác thảo sơ sài về vị nữ anh hùng của họ, kính mong chị lượng thứ.

NM

Trích tiểu thuyết " Đất trời vần vũ"

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (1)   
Cuốn tiểu thuyết " Đất trời vần vũ" của Nguyễn Một sẽ phát hành trong tuần này.
Dưới đây là một trích đoạn
CHƯƠNG 29

Tôi nhận ra thế giới vật chất, nơi mà chúng ta lạc mất nhau quá nhiều khổ đau và muộn phiền

Linh chi Yêu dấu!

Tôi đã làm những bài thơ vì tình yêu của em. Tôi đã làm đủ nghề kiếm sống để đi tìm em. Tôi cũng đã bị dằn xé vì tôi hiểu cả hai thế giới. Tôi nhận ra thế giới vật chất, nơi mà chúng ta lạc mất nhau, quá nhiều khổ đau và muộn phiền. Em biết không? Ở đời này chuyện chết, sống là chuyện tương đối. Vì vậy, tôi tin vào sự phục sinh của chúa Ki -Tô, người ta đóng đinh thể xác ngài vào cây thánh giá, nhưng triết lý "yêu thương loài người" vĩ đại của ngài, giúp cho Chúa "phục sinh" trong lòng con người "như bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng". Mọi người đối xử tàn ác với nhau vì họ không tin vào thần thánh và linh hồn. Họ không may mắn như tôi, họ không có cơ duyên để lạc vào thế giới song song để biết kiếp người là phù du. Nhưng chỉ cần họ tin có thần thánh, cho dù điều đó có tồn tại hay không thì thần thánh và linh hồn cũng giúp cho con người sống tốt hơn em ạ.

Tôi luôn di chuyển giữa hai thế giới nhờ năng lượng Ranaga và sự giúp đỡ của ông già tiên tri. Trong một lần, ông già đưa tôi trở lại thế giới song song, tôi đã gặp những con người mà khi ở cả hai thế giới họ đều đớn đau. Tôi đã gặp chàng trai mười tám tuổi, cậu ta chẳng thanh thản chút nào khi đến với thế giới song song cả em ạ. Cậu ta hoài thai giữa hoang đảo, trong hang đá ẩm ướt, hoài thai trong bụng của hai kẻ ăn thịt người bất đắc dĩ. Mẹ cậu đặt tên là Nguyễn Hoang Đảo. Tôi gặp cậu ta lang thang trong khu rừng thần tiên với đôi mắt xanh thẳm vời vợi. Tôi hỏi:

- Vì sao em còn trẻ, mà em đã đến đây?

- Em đã bị loại bỏ khỏi thế giới vật chất, vì em căm ghét loài người ở thế giới ấy.

- Vì sao em căm ghét họ?

- Em không hiểu.

- Em có tình yêu không?

- Không.

- Vậy em sẽ không thể trở lại thế giới của vật chất.

- Em không cần trở lại.

Linh Chi yêu dấu!

Nguyễn Hoang Đảo đã trả lời đầy hằn học như vậy, nhưng chiều nào cậu ta cũng nhìn về thế giới vật chất với cái nhìn khao khát và khắc khoải.

Nguyễn Hoang Đảo đã ra đời trên đất nước không đến nỗi tồi tệ. Ở đó mọi người có đời sống khá tốt. Người mẹ đã nhốt con trong căn nhà lạnh lẽo. Căn nhà rộng và âm u như mùa đông của xứ sở mà cậu đang sống, không gian u buồn đã ngốn tất cả tuổi thơ của cậu. Khi cậu đến trường, nhìn thấy loài người, cậu căm ghét họ vô cùng. Lần đầu đi học, thằng bé da trắng giành dĩa thức ăn của Nguyễn Hoang Đảo, cậu giằng lại, thằng bé da trắng mắng:

- Thằng mọi da vàng!

Không nói, không rằng, Nguyễn Hoang Đảo đâm thẳng cái nĩa vào mặt thằng da trắng. Nó rú lên ôm mặt đầy máu. Cậu ta bị đưa vào trại giáo dưỡng. Năm mười tám tuổi cậu ra trại. Trong quán rượu, cậu để ý cô bé tóc vàng. Cậu lại gần mời rượu, bất ngờ một thằng da trắng to cao xuất hiện, hắn hất ly rượu và mắng cậu:

- Thằng mọi da vàng.

Như lần trước cậu rút trong áo khoác ra cây tiểu liên bá ngắn,

Cậu đã mua khi mới ra trại giáo dưỡng. Trước những đôi mắt xanh hốt hoảng, những cái miệng há hốc, cậu xả súng vào bọn chúng.

Nguyễn Hoang Đảo đã ngơ ngác trong thế giới song song vì chưa hề có tình yêu, còn tôi có em và tôi biết em đang chờ tôi. Ngày tôi chia tay để trở lại thế giới vật chất, Nguyễn Hoang Đảo đã khóc, những giọt nước mắt không có hình hài gì cả, nó cứ loang loáng như ảo ảnh trên sa mạc. Tôi đã rất buồn, nhưng chẳng làm gì được em ạ.

Tôi trở về tìm em.

Tôi đã chán dạy học sau khi bị kiểm điểm, tôi làm thơ, nhưng làm thơ sao có thể kiếm sống được. Tôi đi làm rẫy thuê để đợi em lớn lên, đợi ngày đi tìm em. Tôi xin vào vườn trái cây, bà chủ đưa cho tôi cây cuốc với ánh mắt nghi ngờ. Lâu rồi tôi chưa cầm cuốc, nhưng tôi không quên công việc đơn giản của một nông dân, mà tôi đã quen thuộc từ lúc chiều cao của tôi còn ngắn hơn cán cuốc. Em còn nhớ không, ngay từ nho, tôi và em đã được trao cây cuốc vào tay cùng với lời dặn dò "Hãy cố lên, quê mình nghèo cần phải trở thành một người nông dân giỏi mới sống được các con ạ!"

Ngày ấy, vết thương chiến tranh làm lở loét cả đồng ruộng. Mất mùa liên miên, nắng như đổ lửa, lúa ngậm đòng chết khô ngoài ruộng, bướm trắng bay rợp trời. Bà nội của tôi nhìn đàn bướm, đôi mắt già nua nhăn nheo hướng về phía cánh đồng. Bé Ba, đứa con không cha của chị tôi ốm tong teo, da nhăn như hạt ươi rừng, khóc nhèo nhẻo, bà cất giọng khàn đục ru cháu: "À ơi! Chiều chiều bướm trắng bay vô. Ba năm trời hạn cây khô lá vàng. Nấu cơm ghế những cọng lang..." Lời ru buồn như buổi chiều ngợp nắng trên cánh đồng khô hạn, vàng vọt.

Tôi muốn kể cho em nghe; trên đất nước này không phải nơi nào cũng nghèo như quê mình đâu em, ở miền Nam nơi tôi đang làm rẫy mướn là vùng đất giàu có và xinh đẹp. Vườn nối tiếp vườn, mùa trái chín chôm chôm đỏ rực xòa ra cả mặt đường đưa tay bứt một quả bóc vỏ bỏ vào miệng ngọt lịm. Sầu riêng nặng trĩu trên cành, mùi thơm ngào ngạt phủ kín cả không gian. Những trái măng cụt e lệ nép mình dưới những tàn lá xanh um. Tôi ao ước khi gặp em chúng ta sẽ đưa nhau về đây sinh sống, em sẽ sanh cho tôi những đứa con khoẻ mạnh, như em đã từng ước ao và tôi- chắc chắn sẽ không còn muốn đi ngược thượng nguồn của dòng sông nữa. Vì ở đó tôi đã biết tất cả và cũng ở đó tôi nhận ra tình yêu của em dành cho tôi bây giờ và mãi mãi vĩ đại hơn mọi thứ quý nhất trên cuộc đời.

Người của thế giới vật chất không đoán được tuổi của tôi và em cũng vậy. Không thể đoán được vì sao em biết không? Vì tôi đã sống trong thế giới song song một thời gian dài. Ở thế giới đó con người không có tuổi.

Thơ của Nguyễn Một

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (5)   
 

Hoa nắng


Em ngồi chải tóc bên sông

Nghìn hoa nắng rụng xuống dòng nước xanh

Tóc bay từng sợi mong manh

Vậy mà buộc được tim anh dại khờ

Giả vờ cắn bút làm thơ

Mỗi trưa anh cứ giả vờ ra sông

Giả vờ đứng ngắm mông lung

để cho em phải ngại ngùng quay đi

Để từng hoa nắng li ti

Vô tình đậu lại bờ mi khép hờ


Nhớ nắng


Anh ngồi nhớ nắng miền Trung

Nhớ con sông nhỏ

                              lạ lùng

                                          nhớ em

Nắng trưa vàng gót chân mềm

Nắng vương mắt mẹ, bên thềm đợi cha

Cánh đồng xa

                       Cánh đồng xa

Chơi vơi cò trắng điểm hoa lên trời

Bây giờ mẹ đã xa rồi

Cha không về nữa

                              Em thôi đợi chờ

Không còn ai để mà mơ

Anh ngồi nhớ nắng làm thơ tặng mình


Biển nắng


Nắng long lanh

Như màu mắt bé

Rực rỡ

Dịu dàng

Chóang ngợp hồn anh

Giống như hạt nắng long lanh

ấy là những lúc mắt xanh dỗi hờn

Ngẩn ngơ mỗi buổi tan trường

Chìm trong biển nắng

Cuối đường

áo bay


Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.