Truyện ngăn: Một vài trích đoạn

Truyện ngắn Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (3)   
 

MỘT VÀI TRÍCH ĐOẠN
Truyện ngắn Nguyễn Một

•1.   Điểu Khum khoát tay một vòng và dõng dạc nói :

•-       Dân làng phải nghe lời ta, phải trở lại với rừng, phải quay về mảnh đất có chôn cất tổ tiên của người Chơ Ro, những đứa con của Yang Pô phải trở về để bảo vệ núi rừng của người.

Hơn một trăm con người cúi đầu lắng nghe mệnh lệnh của già làng. Chẳng ai dám chống lệnh ông, nhưng trong lòng họ nuối tiếc cuộc sống thuận lợi ở làng. Từ ngày có điện về, họ đã quen với cuộc sống văn minh, gái làng, trai làng đã quen với ánh điện, quen với chiếc máy thu băng, mà chỉ cần nhấn nút là nó phát ra những bài hát mượt mà êm tai hơn rất nhiều so với những bài Tầm Pớt xa xưa.

Điểu Khum đảo mắt một vòng rồi nói tiếp :

•-       Nếu cứ mãi ở đây chúng ta sẽ không còn nghĩ mình là người Chơ Ro nữa. Con gái không còn biết thêu cái váy, cái áo. Con trai không còn biết đan cái gùi, đặt cái bẫy, chúng ta phải trở về với rừng.

Mọi người im lặng nhìn nhau, họ sẽ phải làm theo già làng thôi. Bây giờ, người Chơ Ro đã khác xưa. Cách ăn, ở, cách sống không khác người Kinh là mấy. Tuy nhiên, dù có thay đổi như thế nào thì tiếng nói của già làng vẫn là tiếng nói thiêng liêng nhất đối với dân làng.

•-       K'Bương đi lấy ché rượu ra đây cho ta.!

K'Bương khệ nệ bưng ché rượu trong căn nhà mới xây còn thơm mùi vôi vữa.

Tây cầm cần rượu, tay cầm sừng trâu, Điểu Khum cúi mặt nói với dân làng.

•-       Đây là ché rượu cuối cùng, ta để dành bấy lâu nay, các người hãy uống đi, rồi mai thu dọn lên đường.

Đàn bà lần lượt rút lui, đàn ông ngồi quanh ché rượu, họ uống với nhau trong im lặng...

•2.   Chiều tháng bảy, mây vần vũ, trời âm u, con sông Bù Cháp nước réo ầm ầm, từ phía thượng nguồn già làng buồn rầu đưa mắt nhìn ngọn Kung Pô chìm trong cơn mưa mờ mịt, ông không ngờ chỉ có mấy năm mà rừng trơ trọi như vậy. Ông đã sinh ra và lớn lên ở đây, bên con sông Bù Cháp bốn mùa nước ngọt, con sông đã làm nên ché rượu thơm phưng phức cho ngày lễ hội cúng Yang. Trên gương mặt nhăn nheo của già làng thoáng một nỗi buồn. Những đứa con của Yang Pô lưu lạc khắp bốn phương trời.

Sau cuộc chiến tranh, ông nhớ rõ, ông đã luồn rừng, lội suối đề tụ tập họ về quanh con sông này. Ngày đó cây buông mọc dày đặc, mỗi chiếc lá như cái quạt khổng lồ phe phẩy quanh năm. Mỗi đọt lá như lưỡi gươm thần kiêu hãnh chĩa thẳng lên bầu trời xanh thẳm, xen lẫn giữa rừng gươm ấy là những bông hoa buông xòe ra như một cây thông nhiều tầng. Cây buông vĩ đại ở sự hy sinh cao cả, từ trong lòng nó bung ra một bông hoa lớn, nở hoa kết trái và chết đi sau khi đã hoàn thành sứ mệnh với trời đất.

•-       Này K'Bương! - Ông già khẽ gọi

K'Bương trầm ngâm ngồi trên sạp nứa trong căn nhà cất tạm nhìn ra màn mưa mờ đục, lắng nghe tiếng réo gọi thiêng liêng của dòng sông.

•-       Này K'Bương! Ông già gọi lớn hơn, K'Bương giật mình, ngước nhìn vị già làng khả kính bằng đôi mắt buồn bã.

•-       Con đã thay mặt dân làng ký hợp đồng và nhận tiền trồng rừng chưa?

•-       Thưa rồi, nhưng chỉ mới nhận một nửa thôi.

•-       Sao vậy?

•-       Ông Bảo nói, Chính phủ hết tiền rồi, sẽ phát sau

•-       Thế cũng được, con chia lại cho dân làng để họ sắm dao, rựa, ngày mai ta trồng lại khu rừng này.

K'Bương lắc đầu lẩm bẩm.

•-       Cây buông hết rồi, chỉ còn gai lào táo, phá rất khó, trồng lại rừng không dễ.

•-       Chúng ta sẽ làm được - Già làng cương quyết.

•-       Chúng ta sẽ làm được - K'Bương lơ đễnh nhắc lại lời của ông.

K'Bương mải suy nghĩ về cuộc gặp gỡ sáng nay với ông Bảo, con người ấy có cái gì đó không thật trong đôi mắt.

Người già bảo : "Cái bụng không thật, con mắt không dám nhìn thẳng"

K'Bương có may mắn hơn dân làng, anh được Nhà nước cho ăn học. Tốt nghiệp đại học sư phạm anh mang chữ về cho dân làng. Anh từ chối nhiệm sở ở trường huyện để theo dân làng trở lại núi rừng. Anh thay mặt họ để giao tiếp với người Kinh...

•3.   ...

•4.   Vị mục sư một tay để trên ngực, mắt ngước lên trời. Dưới chân ông đám con chiên đen đủi rách rưới lơ đễnh nghe ông nói, có người còn vạch vú cho con bú, bọ trẻ khóc nhèo nhẽo vì đói. Ông nói về một con người cao cả, Đức Giê Hô Va, chúa tể của muôn loài, con người ấy lớn hơn cả Yang Pô, quyền năng vô biên, con người sáng tạo ra thế giới này. Bên cạnh con gái của ông đang xúc gạo chia thành từng túi nhỏ. K'Bương nghe ông nói về người đã sinh ra đấng sáng thế, ông thuyết phục mọi người hiểu rằng bà Maria đã sinh ra đấng Giê Hô Va khi còn đồng trinh, nhưng sau đó người cũng sinh ra những người con khác, người có quyền làm như thế, đó là ý muốn của thượng đế, ai cũng có quyền sinh con đẻ cái. K'Bương nhớ Hiền, người bạn cùng đại học với anh. Hiền có khuôn mặt đẹp như pho tượng Đức Mẹ trong nhà thờ. Hiền nhất quyết bảo với anh là Đức Mẹ đồng trinh "Người cao trọng hơn tất cả những người đàn bà trên thế giới này". Hiền đưa anh đến nhà thờ, để nghe những bài thánh ca réo rắt ca ngợi Đức Maria. Anh cũng biết vị mục sư đang rao giảng tôn giáo khác với tôn giáo của Hiền. Dân làng cũng biết thật khó có ai lớn hơn Yang Pô, quyền năng hơn Trô nhưng họ vẫn kiên nhẫn ngồi nghe vị mục sư rao giảng vì họ cần những hạt gạo trắng đằng kia. Cả tháng nay họ chưa được ăn cơm, họ ăn những thức ăn đào bới được trong rừng. Già làng cũng đang đói, nhưng ông nhất quyết không tin ai ngoài Yang Pô, ông không nhận gạo của vị mục sư, nhưng ông không muốn để dân làng thiếu ăn. Người đàn ông tên Bảo đã không giữ lời hứa, ông ta đã không trả đủ tiền trồng rừng cho dân làng. K'Bương bất lực nhìn bàn tay nõn nà của cô con gái của vị mục sư đang nâng những hạt gạo trắng tinh trên tay. K'Bương tưởng tượng hình ảnh người đàn ông của hai ngàn năm trước, đầu đội mão gai, lê đôi chân trần trên đất nóng, trước sự phỉ báng của mọi người. Không hiểu sao anh cứ mãi nhớ hình ảnh ấy, khi Hiền kể cho anh nghe câu chuyện chúa tể của nàng chịu nạn trên đỉnh Golgotha. Hiền bảo anh hãy theo đạo của nàng, anh bảo anh có chúa của anh, vị chúa tể của núi rừng. Hiền lấy làm tiếc về điều này, nàng úp khuôn mặt xinh đẹp vào bộ ngực vạm vỡ của anh, nàng đã khóc nức nở trong đêm chia tay. Anh biết mình không xứng với nàng, dù nàng yêu anh. Anh đã chiến đấu với bọn vô lại bằng sức mạnh rừng rú để bảo vệ nàng, điều này làm nàng có cái nhìn khác về anh, nàng không hề coi anh là "một tên mọi" như vài kẻ cực đoan khác. Nàng bảo : "Anh là tên mọi văn minh và hào hiệp, em yêu cái hoang dã của anh".

K'Bương mỉm cười, dù sao anh cũng là người hạnh phúc. Anh trở về với rừng núi là đúng rồi, anh biết anh và dân tộc anh không thể xa rừng, dòng máu của người Chơ Ro lưu truyền trong huyết quản, thôi thúc anh trở về.

Vị mục sư đã làm xong công việc của mình, bầu trời lại vần vũ, con sông Chân Háp réo ầm ầm. Anh ngước nhìn ngọn Kung Pô : "Dân làng đã làm gì nên tội với người, hỡi Yang Pô". Những tín đồ vui mừng ôm bọc gạo chạy vội về căn nhà rách nát của mình. Bầu trời bỗng nứt toác ra, nước ầm ầm đổ xuống. Vị mục sư và con gái lao vào lớp học chỗ K'Bương đang ngồi...

•5.   Ba phân cảnh trên đây tôi viết lại khi chọn lọc từ hàng chục phân cảnh trong một kịch bản phim "Sự cuồng nộ của Yang Pô" có nghĩa là sự nổi giận của thần núi Chứa Chan, một ngọn núi được coi là điểm cuối cùng của dãy Trường Sơn hùng vĩ nằm trên đất Đồng Nai. Dĩ nhiên kịch bản rất dài, nhưng nhiều đoạn chị mô tả tình yêu, một thứ tình yêu thiêng liêng đẹp đẽ, nhưng tôi thấy nó có vẻ phù phiếm, nên không ghi lại. Tác giả kịch bản chính là Dung con gái của vị mục sư. Dung kể đêm hôm ấy, đêm kinh hoàng, nước không biết từ đâu cuồn cuộn đổ về, chẳng ai kịp trở tay, nước cuốn phăng tất cả. Chỉ mình Dung thoát chết nhờ may mắn ngồi gần K'Bương, anh đã chụp cánh tay cô, khi cột nước khổng lồ từ đỉnh Kung Pô đổ xuống. Sau khi vật lộn với dòng nước để đưa cô lên đồi, không một chút chần chừ K'Bương lao xuống nước bơi về phía dân làng của anh. Nhưng tiếc thay không một ai còn sống sót sau cơn cuồng nộ của Yang Pô. Cả Sóc Ba Buông bị quét sạch. Dung là nhân chứng duy nhất còn sót lại sau cơn lũ. Nhiều năm qua Dung làm tất cả cho cuốn phim, Dung muốn gởi đến cho con người một thông điệp. Không biết lúc nào thì Dung thực hiện được ước nguyện, chứ khi gặp tôi, cái kịch bản của cô đã rách như xơ mướp.

Ước nguyện cuối chưa thành

Truyện ngắn Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

Ước nguyện cuối chưa thành

>> Nhân chứng thứ hai của vụ kiện da cam/điôxin VN qua đời

TP - Bà Nguyễn Thị Hồng người thứ 2 trong đoàn nạn nhân chất độc da cam/dioxin (CĐDC) vừa từ Mỹ trở về đã từ trần lúc 10 giờ 45 phút ngày 20/7.

Bà Nguyễn Thị Hồng (ngồi trên xe đẩy) trong thời gian dự phiên tòa trên đất Mỹ - Ảnh: Tuổi trẻ
Trước bà Hồng, một thành viên khác trong đoàn là ông Nguyễn Văn Quý đã mất tại Hải Phòng vào ngày 7/7...

Hơn nửa đời người bị bệnh tật do di chứng của chất độc da cam (CĐDC) đeo đẳng gia đình bà Hồng đã khánh kiệt. Trong không khí đau buồn của lễ tang, chồng bà - ông Đỗ Minh Trí nghẹn ngào nói:

“Từ nước Mỹ trở về, vợ tôi  muốn được kể lại cho bà con nghe về sự đồng cảm của nhân dân Mỹ đối với 3 triệu nạn nhân CĐDC mà quân đội của họ đã để lại trên đất nước Việt Nam nhỏ bé hiền hoà này.

Nhiều người Mỹ đã bật khóc khi nghe vợ tôi  nói, khi nhìn thân thể bị tàn phá của bà ấy. Nhưng vợ tôi chưa kịp thực hiện ước nguyện của mình thì bị bệnh tật đã quật ngã!”.

Ngày ấy, trong cánh rừng bạt ngàn của chiến khu Mã Đà, cô y tá Nguyễn Thị Hồng rực rỡ như cánh hoa mai, mỗi lần cô xuất hiện các chiến sĩ đứng lên, họ chỉnh trang y phục, như chuẩn bị hành quân, ai cũng muốn được cô để mắt đến.

Nhưng cô yêu Đỗ Minh Trí cận vệ của cha mình. Tình yêu trong thời chiến tranh say đắm, hai người tỏ tình qua ánh mắt.

Hiểu được tấm lòng của đôi trẻ, đồng chí Nguyễn Văn Nguyên, bí danh là Năm Hòa, Phó Chủ tịch khu Đông Nam Bộ làm lễ cưới cho con gái và người cận vệ tin cẩn của mình.

Đám cưới thời chiến, tổ chức đơn sơ trong niềm vui đồng đội. Mọi người đến dự thưởng thức chè vối, lương khô.

Khi cuộc vui chưa tàn thì tiếng máy bay gầm rú. Mọi người tản xuống chiến hào, nhưng lần này máy bay không thả bom mà thả thứ bột màu mờ đục phủ kín núi rừng.

Ngày đó, chưa ai ý thức được tác hại của thứ chất độc hủy diệt này, có anh bộ đội còn tếu: “Chúng nó thả khói màu mừng đám cưới”. Hậu quả trút lên đầu cô dâu trẻ trong rừng ngay sau những ngày cưới, ba lần hư thai.

Nguyễn Thị Hồng đã khóc hết nước mắt nhưng vẫn hiên ngang lao vào cuộc chiến. Cũng may sau đó, ba đứa con lần lượt ra đời đều khỏe mạnh, đến đứa thứ tư mới sinh ra môi đỏ như đoá hồng, ông bà đặt tên là Đỗ Thị Hồng Nhung.

Thế nhưng, cô bé lớn lên mang trong mình di chứng CĐDC, với thần kinh không ổn định.

Sau ngày đất nước thống nhất, họ sống giản dị trong căn nhà nhỏ ở thành phố Biên Hoà. Từ năm 1977, bà Hồng thường bị những cơn đau hành hạ, của cải trong nhà lần lượt ra đi.

Khi bác sĩ báo tin lá lách của bà đã hoại tử, gia đình cắn răng bán căn nhà để cứu bà và từ đó họ chỉ sống bằng đồng lương ít ỏi của ông và sự giúp đỡ của đoàn thể, xã hội và bạn bè.

Nhưng cái chất độc quỷ quái ấy không buông tha bà, lần lượt nội tạng của bà bị phá hủy, bà chết dần chết mòn trong đau đớn.

Đến năm 1990, phái đoàn bác sĩ Mỹ xác định bà bị nhiễm CĐDC, bà mới nhớ lại cái làn bụi mờ trong những ngày chiến đấu trong chiến khu.

Bắt đầu ý thức nỗi đau của hàng triệu đồng bào, bà dành những tháng ngày còn lại góp chút sức tàn xoa dịu nỗi đau của cộng đồng. Bà tham gia công tác xã hội, tham gia Hội Phụ nữ, Hội nạn nhân chất độc da cam…

Một việc làm đầy ý nghĩa những ngày cuối đời là đã tham gia phiên tranh tụng ngày 18/6/2007 trên đất Mỹ. Lê thân hình bệnh tật, đôi chân hoại tử, như bằng chứng sống nói chuyện với những người dân của nước Mỹ và đón nhận sự ủng hộ của họ.

Ông Trí còn nhớ trước ngày lên đường đi Mỹ, bà nói với ông như lời trăng trối: “Tôi biết mình chẳng còn sống được bao lâu nữa, dù rất đau đớn tôi cũng phải đi, đi cho thế giới thấy sau đó chết cũng yên lòng”.

Nguyễn Một 

Nông dân tỷ phú

Truyện ngắn Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Đến xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom hỏi tên ông Hồ Sáu thấy người dân nào cũng biết. Sinh ra ở vùng quê nghèo, từng bị bom đạn vùi trong đất, lang bạt từ năm 13 tuổi, nhưng hôm nay Hồ Sáu trở thành nông dân nổi tiếng nhất của Đồng Nai.

Ông Hồ Sáu giới thiệu với bà con nông dân cây sắn cao sản
Cũng vì thành tích ấy, nông dân Hồ Sáu vinh dự được đón tiếp Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại nhà riêng.

Tuổi thơ dữ dội

Hồ Sáu sinh ra ở vùng quê nghèo “đất chật người đông, nên khi đặt tên mẹ cha cũng không cần thêm chữ lót”(Thơ Tạ Nghi Lễ). Đứng giữa bầy dê hàng ngàn con, Hồ Sáu trầm tư kể:

“Tôi sinh ra ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, nơi xảy ra những trận đánh ác liệt, bom rơi đạn nổ trên đầu, mạng sống như sợi chỉ mành treo chuông. Hơn 50 tuổi cha mẹ mới sinh được tôi, đứa con độc nhất của gia đình, nhưng nhà không đủ ăn nên dù là con một, tôi cũng không khác gì những đứa trẻ khác ở quê.

Cũng lấm láp đất bùn trong cuộc mưu sinh. Năm tôi 13 tuổi, một quả bom rơi cạnh nhà vùi tôi trong đất, cha mẹ tôi gào khóc bới đất tóe máu năm đầu ngón tay, may mà tôi còn thoi thóp thở, cha mẹ mừng muốn ngất đi luôn.

Vài ngày sau, hai cụ gói cho tôi dăm ký gạo, vài bộ quần áo trong tay nải và nghẹn ngào bảo: “Con  vào Sài Gòn đi, có thể khó khăn giữa xứ lạ quê người, nhưng tránh được đạn bom, may ra giữ được giọt máu của nhà ta”.

Ông bắt đầu cuộc đời trôi nổi nơi “đất khách quê người” từ năm 13 tuổi với thùng cà rem trên vai, đêm về co ro nơi vỉa hè, có được chút tiền ông thuê nhà trọ trong khu ổ chuột.  Quyết tâm đổi đời.

Giàu từ củ sắn

Sau ngày đất nước thống nhất, Hồ Sáu trôi dạt về Trảng Bom làm thuê dành dụm mua được miếng đất bạc màu. Bà con ở đây trồng cây, cây cỗi; trồng lúa, lúa lép nên đất rẻ như cho, ông mua cả héc-ta cũng chỉ có giá vài chỉ vàng.

Bằng kinh nghiệm của vùng quê mà củ sắn, củ khoai là chủ đạo, ông nghĩ ngay việc trồng sắn. Ông mày mò học hỏi. May mắn ông biết được Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Hưng Lộc đang trồng thử nghiệm giống sắn mới có năng suất cao: 25-30 tấn/ ha.

Lập tức Hồ Sáu đến nhờ trung tâm hỗ trợ một số giống mới và hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc giống sắn này. Khi nắm trong tay giống mới và kỹ thuật trồng, ông nảy ra ý định thuê thật nhiều đất để đầu tư trồng sắn.

Nhưng khó khăn gặp phải là vốn đầu tư lấy ở đâu ra? Ông đánh liều đến ngân hàng trình bày ý đồ mở rộng sản xuất, không ngờ khi nghe ông đưa ra dự án khả thi, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp huyện Trảng Bom đồng ý cho vay vốn.

Có vốn, ông mạnh dạn thuê 40 ha đất trồng sắn (mì) năng suất cao. Thấy ông táo bạo ai cũng lắc đầu lè lưỡi bảo ông liều mạng. Mặc, Hồ Sáu tâm sự với vợ:

“Được ăn cả ngã về không, mình xuất thân có gì đâu, cùng lắm thì trở lại với con số không như ngày xưa vậy!”. Trời đất không phụ người tận lực. Kết quả là vụ sắn năm 1993-1994, Hồ Sáu trúng lớn, lãi hơn 400 triệu đồng.

Đó là cột mốc đánh dấu sự đổi đời của gia đình nông dân nghèo Hồ Sáu. Sau thành công lớn đó, ông được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định đi tuyên truyền từ Nam, Trung rồi ra Bắc để nhân rộng giống sắn này. 

Ông kể: “Thấy tôi thành công với cây sắn, nông dân các tỉnh đã đưa vào trồng đại trà, năng suất lên tới 40 tấn/ha, cao hơn bất cứ giống sắn nào lúc bấy giờ”. Sau chuyến du hành ấy, ông đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng Bằng khen và Huy chương Vì sự nghiệp nông nghiệp, nông thôn.

Bầy heo rừng trong vườn ông Hồ Sáu
Nay Hồ Sáu đã xây dựng được dinh thự trị giá hàng tỷ đồng nằm giữa khuôn viên 4 ha đất với hoa viên sang trọng. Hòn giả sơn, cây cảnh, công trình điêu khắc…

Từ những gốc cây đồ sộ mang về từ vùng Mã Đà cao gần chục mét đã dần hiện hình ông Phúc, ông Lộc, ông Thọ, dưới bàn tay của  những người thợ chạm khắc tài hoa ở làng mộc Đông Giao  nổi tiếng ngoài Bắc được ông mời về. Nhìn dinh thự và khu vườn ấy ít ai nghĩ rằng vợ chồng ông đã tạo ra nó từ củ sắn, củ khoai, từ đôi bàn tay chai sần lao động của một người nông dân.

Làm ăn lớn

Từ bao đời nay người nông dân luôn gắn việc trồng trọt với chăn nuôi. Sau khi đi tham quan mô hình nuôi dê ở tỉnh Ninh Thuận, Hồ Sáu nhận thấy khí hậu và thức ăn cho dê ở Đồng Nai cũng thuận lợi, nên đã đầu tư 300 triệu mua 200 con dê giống.

Đến nay, đàn dê sinh sản và phát triển lên gần 3.000 con. Nhiều nông dân trong vùng đến học tập mô hình, ông sẵn sàng giúp đỡ họ về kỹ thuật và vốn. Để đảm bảo đầu ra cho bầy dê của ông và của bà con nông dân,  ông đã phát triển dịch vụ kèm theo là cung cấp thịt dê cho thị trường Đồng Nai.

Ông kể: “Hồi mới chăn dê, tôi phải phóng  xe máy lân la khắp TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương cả tháng trời để tiếp cận quán thịt dê. Vào quán nào cũng nhậu món dê, ăn phát ngán luôn. Rồi lân la hỏi giá, sau đó từ chỗ khách nhậu tôi quay sang tiếp thịt dê của mình.

Có lần hỏi nhiều quá, một tay chủ quán gắt: “Ông vào nhậu hay cần người tâm sự, để tôi kêu cho ông mấy đứa tiếp viên”. Sau này, chính ông chủ nhà hàng này không những chuyển sang lấy thịt dê của ông mà còn tiếp thị thêm cho ông bán thịt dê ở những quán khác.

Hiện nay, mỗi ngày ông thu gom dê và giết thịt 50 con. Lòng dê bán không có giá, ông dùng để nuôi cá sấu. Lũ cá sấu trong vườn ông ngày nào cũng được thưởng thức món lòng dê nên  chúng béo nung núc  và lớn nhanh như thổi.

Nay trong 4 ha đất vườn nhà Hồ Sáu ngoài mấy ngàn con dê, còn có gần trăm con lợn rừng, hơn trăm nhím cá sấu, kỳ đà. Vào tham quan khu vườn của ông mới biết người nông dân không bao giờ dùng đất để chơi như người thành thị.

Từ một héc-ta đất bạc màu cách đây hai mươi năm, đến nay tỷ phú nông dân Hồ Sáu có 4 ha cao su, 2 ha cà phê, mấy chục héc-ta trồng sắn, cây ăn trái, một lò mổ, một nhà máy chế biến tinh bột…

Mỗi năm ông có thu nhập hơn tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 50 người. Quả là một hiện thực vượt quá xa ước mơ của cậu bé bán cà rem năm xưa. Ngày ấy ngay cả trong giấc mơ ông cũng không dám nghĩ đến cơ ngơi bề thế này.

Hồ Sáu thành thật: “Ngày xưa tôi chỉ ước mơ có căn nhà nho nhỏ, ngày nay tôi biết nhiều bà con cũng đang có ước mơ như tôi ngày xưa!”.

Để giúp bà con thực hiện ước mơ ấy, ông tham gia Hội Khuyến nông bôn ba khắp huyện Trảng Bom để hướng dẫn bà con cùng làm giàu, ai khó khăn ông cho mượn vốn, tham gia rất nhiều hoạt động từ thiện của địa phương.

Tuy nhiên, những điều này tôi không nghe ông nói mà chỉ nghe bà con nông dân kể lại.

Nguyễn Một

(bài đăng trên báo Tiền Phong 8-2007) 

Kẻ vô học

Truyện ngắn Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

* Truyện ngắn của Nguyễn Một

Đêm. Khu rừng rộ lên những âm thanh ma quái, rừng không hề yên tĩnh như cái vẻ bề ngoài của nó. Tiếng nai tác, hổ gầm, cú rúc, làm cho hắn cảm thấy bình yên, đó là thói quen mười mấy năm qua! Hắn sợ nhất là bỗng dưng rừng im bặt, chim ngừng hót, thú ngừng kêu, chỉ còn rì rào âm thanh đều đều, mê hoặc, ru ngủ của dòng suối bên căn chòi. Những lúc như vậy, hắn nắm chặt chuôi dao găm, cặp mắt tròn xoe như mắt mèo rừng nhìn đăm đắm vào bóng tối. Đứa con gái nằm trên cái sạp tre, hắn bẻ từng cành củi nhỏ ném vào đống lửa để sưởi ấm cho con.

Đã từ lâu hắn không bao giờ ngủ ban đêm, hắn thức không phải vì sợ thú rừng mà sợ con người, hắn căm ghét loài người, tất nhiên ngoài con gái của hắn ra. Điều hắn bực bội nhất là đứa con gái hoang dã của hắn ngày càng xinh đẹp, giống mẹ như đúc. Dù mọi sự liên hệ với xã hội loài người đều thông qua con gái, nhưng hắn dạy con phải căm ghét loài người, luôn luôn nghi ngờ thì mới tồn tại được, con người là loài động vật ưa phản bội nhất ! Năm mười hôm hắn cho con ra bản làng một ngày. Những người dân Chơ Ro hiền lành không hề quan tâm đến cô gái nửa kinh, nửa thượng thường mang thú rừng ra đổi gạo muối cho quán tạp hoá của lão Chệch đầu bản. Hắn không bao giờ cho con gái mang cái gương về nhà, nhìn thấy gương là hắn đập ngay. Ngày xưa vợ hắn cũng thường soi gương như vậy.

Hắn thù hận nàng, nhưng hắn nhớ quay quắt nụ cười của nàng. Ngọn lửa liếm dần cành gai lào táo, ánh lửa xanh lè ma quái, ngọn lửa liêu trai và dâm đãng. Bỗng dưng máu trong huyết quản của hắn sôi lên, ngọn lửa làm hắn nhớ hình ảnh nàng quằn quại cuốn đôi chân ngà ngọc vào tấm thân trần của tên khốn nạn! Hắn nhớ ngày hắn dắt nàng về nhà, mẹ hắn khen nàng đẹp, nhưng bà lại nhìn hắn bằng con mắt lo lắng khi thấy nụ cười mơn trớn của nàng dành cho hắn. Bà lẩm bẩm:Đời thằng này rồi sẽ khốn nạn! Mẹ hắn bao dung đón nhận đứa con hư hỏng trở về, hắn biết rõ điều đó, một nhược điểm cố hữu của những người đàn bà nông thôn, chú hắn bảo thế mà! Đôi mắt lá răm lúc thì lúng liếng, lúc xa xăm của nàng đã hớp hồn hắn. Bao nhiêu tiền bạc kiếm được, hắn mang đến quán karaoké để mua nụ cười của nàng.

Mẹ hắn, người đàn bà từng trải, một phụ nữ Việt Nam điển hình, chịu muôn vàn mất mát đau thương. Cha và anh trai hắn hy sinh lúc cùng đoàn quân vào đến tận cửa ngõ Sài Gòn. Đồng đội kể rằng:Khi niềm vui chiến thắng đã gần kề, hai cha con gặp nhau trên đường hành quân, họ ôm nhau, ôm như thể dính vào nhau và họ đã chết trong tư thế lạ lùng như vậy. Họ chết cứng, bọn Mỹ ném quả bom ngạt CPU cuối cùng xuống mặt trận Xuân Lộc trước khi tháo chạy. Lúc ấy, hắn mới mười lăm tuổi, mười lăm tuổi nhưng hắn đã là lực điền, một lao động chính, khi nghe tin cha và anh hắn hy sinh, mẹ hắn ngất xỉu trên đám ruộng đang cấy dở, hắn vác mẹ chạy về làng. Tưởng bà ngã quỵ đợt ấy luôn, nhưng trái với sự tưởng tượng của mọi người, bà tỉnh dậy, cặp mắt ráo hoảnh và lạnh như băng, trong lúc những đồng đội của chồng và con trai bà vừa làm lễ truy điệu vừa khóc.

Họ khóc vì thương đồng đội, họ khóc vì chứng kiến cái chết đầy bi tráng của cha con người lính. Hai cha con dính chặt vào nhau, không gỡ ra được, đồng đội đành phải làm quan tài đôi để chôn chung hai người. Mẹ hắn dành hết tình thương còn lại cho hắn, nhưng hắn đã phụ công ơn của mẹ. Học chưa xong tú tài, hắn bỏ học theo bạn bè đi đào đá đỏ. Học làm quái gì, cái thứ lý thuyết vô bổ ấy. Hắn thấy chú ruột của hắn học chưa qua tiểu học, cũng làm cán bộ to trên huyện. Mỗi khi tạt qua nhà thăm chị dâu, sau khi đánh một vòng quan sát khu vườn đất hương hỏa, ông vỗ vai hắn nói:

  -Nghe bảo mày học dốt lắm hả, đã học không vô thì cố học làm quái gì, đâu có phải ai có học cũng giỏi cả đâu, tao chỉ học hết lớp ba mà mầy thấy đó, mỗi khi về trường mầy dự lễ tao chỉ mới nói một câu: Kính chào thầy cô giáo..!, là bọn trí thức ấy vỗ tay rầm rầm. Hà hà… Có tiền có quyền là có tất cả mày hiểu chưa?

Ông cười sảng khoái vì sự phát hịên ra điều chứng tỏ sự thông minh của mình. Hắn không thích ông chú ruột lắm, một kẻ vô học dám chế nhạo các thầy cô giáo của hắn, dù hắn có học dốt thì các thầy cô hắn cũng là những người đáng kính, nhưng hắn thấy ông ấy nói có lý. Mẹ hắn căm ghét ông em chồng ra mặt, có lần nghe chú hắn nói thế, bà nổi giận mắng té tát vào mặt ông:

- Đồ sâu bọ, đồ rắn rít, chú đừng truyền tư tưởng mất dạy đấy cho thằng bé, không hiểu sao chồng tôi lại có người em khốn nạn như chú!

Ông chú cười nhăn nhở:

- Thời thế nó vậy bà chị ơi, nhà có hai anh em, một người sống lý tưởng thì người kia phải thực tế mới có tiềân lo cho gia đình, dòng họ chứ!

- Chú nói vậy, làm vậy mà không sợ bị mất chức à ?

- Ấy đó là em chỉ nói với chị thôi, người nhà với nhau, chứ ra ngoài em đạo đức lắm, em khuyến khích sự học đấy chứ, ai cũng khen em cả chị không thấy sao. Thôi chị đừng giận, em về đây, khi nào thằng cháu không học được nữa chị tống nó lên huyện cho em.

Nói xong ông kéo hắn ra góc vườn dúi cho hắn một nắm tiền.Từ những đồng tiền của chú cho, hắn trượt dần xuống vũng lầy cuộc sống, chưa nghiện ngập nhưng hắn chán học, mới mười bảy tuổi đầu hắn biết đánh bạc, chơi gái. Việc trốn học xảy ra như cơm bữa, thầy giáo gởi thư báo tin cho mẹ hắn, hắn chận đường mấy đứa bạn tước thư đi. Hàng ngày hắn vẫn quần xanh, áo trắng mang cặp đi học. Trường học của hắn là quán karaoké trong thị trấn.

Ở đây hắn gặp nàng, nàng trói chặt cuộc đời gã trai tơ của hắn bằng đôi chân mềm mại như ngó sen. Mỗi lần ghé qua uỷ ban, chú hắn lại dúi cho hắn vài triệu. Hắn sống như vua con cho đến cái ngày đích thân thầy chủ nhiệm đến báo tin cho mẹ hắn biết hắn đã bị đuổi học, lần này thì mẹ hắn quỵ thực sự, bà khóc liền mấy ngày đêm. Hắn nạt mẹ:

  -Có gì mà khóc, cần gì phải học, đâu phải cứ có học mới giỏi, con sẽ làm giàu cho mẹ coi.

Mẹ hắn nhổm dậy, đầu tóc rũ rượi, bà hét vào mặt hắn:

- Mày cút đi, thằng khốn nạn, mầy làm nhục vong hồn cha mày.

- Làm quái gì có vong hồn, chết là hết -

Hắn lẩm bẩm, rồi vác ba lô lên rừng đào đá, chú hắn đã rỉ tai cái công việc dễ kiếm tiền này, ông tận tình hướng dẫn cặn kẽ về vùng đất mà hắn sẽ đến. Sau một năm lăn lộn, hắn trúng lớn. Không như hăm doạ của nhiều người, hắn chẳng hề bị sốt rét, chẳng phải đâm chém, chỉ đánh nhau vài trận, nhưng dường như có sự che chở vô hình nào đó nên bọn "lính cũ" hậm hực dạt ra để hắn làm ăn tự do.Việc đầu tiên khi trở về thị trấn, hắn vào quán Karaoké tìm nàng, hắn xoè ra trước mặt nàng nắm đá đỏ, nàng vội vứt bỏ tất cả mọi thứ lỉnh kỉnh trong quán, theo hắn về quê.

Hắn xây nhà mái bằng, làm hẳn bồn tắm trong phòng ngũ để vợ chồng tắm chung. Hắn đặt một bàn thờ sơn son thếp vàng thay cho bàn gỗ ngay giữa nhà, hắn tạc hình cha và anh lên sơn mài, lồng hai cái bằng "Tổ quốc ghi công" và cái khung kính mạ vàng mười tám. Ai vào nhà cũng trầm trồ khen sự hiếu thảo của hắn. Họ khen mẹ hắn có con trai giàu có, con dâu xinh đẹp. Mẹ hắn không vui, không buồn, hắn ném ra rào cái bát hương sành để thay lư đồng trên bàn thờ, bà lặng lẽ mang bát hương vào buồng của mình. Tới bữa bà ăn rau chấm tương, chứ không hề đụng tới thịt cá, từ ngày hắn bỏ học mẹ ăn chay trường, tụng kinh suốt ngày.

-Mặc xác bà ấy, cụ lẩm cẩm mất rồi !

Nói xong hắn lăn vào nàng…
 
***

Thành nhích dần về phía căn chòi, anh biết rõ gã tội phạm bị truy nã đang ở trong căn chòi kia, anh cũng biết gã rất nguy hiểm và nhanh nhẹn. Mới ra trường, Thành đã nhận một nhiệm vụ khó khăn, anh phải truy nã tên tội phạm giết người sống ngoài vòng pháp luật suốt mười lăm năm qua. Mười lăm năm, quãng thời gian đủ để cho con người quên đi nhiều thứ, nhưng nghề của anh thì không được quên, tên tội phạm nguy hiểm sẽ bị truy nã bằng mọi giá. Khi nhận nhiệm vụ, anh chỉ có trong tay tấm hình của hai người trẻ tuổi đang trao nhau cái nhìn âu yếm.

Chàng trai có gương mặt cương nghị rắn rỏi, môi dày trễ ra khi cười, mắt sáng, mái tóc đen nhánh bồng bềnh, cô gái mắt lá răm, mũi dọc dừa, nụ cười tươi như hoa, lúm đồng tiền tăng phần quyến rũ trên gương mặt bầu bỉnh. Ngắm đi, ngắm lại tấm hình, anh không tin rằng chàng trai có nụ cười hiền lành lại là một tên tội phạm nguy hiểm, một kẻ giết người và đang trốn tránh pháp luật. Có nguồn tin tên giết người đang lẩn tránh trong vùng rừng núi miền Đông Nam bộ. Trong vai một hoạ sĩ, Thành cắp giá vẽ lang thang nhiều ngày trong các bản làng miền Đông, từ Bình Dương đến Đồng Nai nhưng vẫn chưa có vết tích gì cả. Lợi thế lớn nhất của Thành là anh biết vẽ, trước khi theo ngành công an, anh đã tốt nghiệp cao đẳng mỹ thuật. Thành thu mình thật nhỏ lại trong bụi cây quan sát căn chòi có ánh lửa bập bùng dưới gốc cây lim già. Anh biết tên tội phạm nguy hiểm, kẻ giết người đang ở trong ấy.

Hắn không chỉ ở một mình, hắn ở với một con người thánh thiện. Cô trong trắng như bông hoa rừng, anh không muốn làm cho cô tổn thương nên anh phải thu mình chờ đợi. Anh gặp cô trong một lần mang giá vẽ vào rừng. Đã một tuần trôi qua anh chưa tìm ra manh mối gì cả, nhưng bù lại anh có gần chục phác thảo tuyệt đẹp về núi rừng và những cảnh sinh hoạt hấp dẫn của người dân tộc. Đang lang thang trong rừng anh bỗng nghe tiếng hát, tiếng hát thánh thót của một cô gái, tiếng hát rất hay dù bài hát là những ngôn từ lộn xộn và kỳ cục. Anh lần theo tiếng hát và gặp cô, cô ngâm mình trong nước, váy áo dính sát người, lộ những đường cong tuyệt mỹ.

Không kiềm chế được trước vẻ đẹp lạ lùng ấy, anh bày giá vẽ. Ngọn bút chì chạy thoăn thắt trên giấy, vừa vẽ anh vừa van lơn: "Đứng yên nhé! Đứng yên nhé!" Thấy anh chàng trẻ tuổi có hành động kỳ lạ cô chẳng hiểu gì cả, nhưng dường như cô đọc được điều gì đó trong ánh mắt van lơn ấy, nên cô đứng yên. "Xong rồi!"- Tung cây bút chì xuống dòng suối, anh reo lên như đứa trẻ. Cô lội lên bờ tò mò ghé mắt vào bức tranh. Anh quay lại nhìn cô thốt lên: "Em đẹp lắm!" Cô gái bật cười lanh lảnh. "Em tên gì ?" - Anh hỏi. "Tên ư? Không có tên!"

Nói xong cô vụt chạy vào rừng. Đêm về, nằm một mình trong ngôi nhà rông của già làng, anh mang bức tranh ra ngắm, lúc này anh mới giật mình thấy gương mặt của cô quen lắm, dường như anh gặp ở đâu rồi. À đúng rồi, gương mặt cô giống như tạc người chụp chung với tên tội phạm trong tấm ảnh mà cấp trên giao cho anh. Cái tư duy nhạy bén của người công an quay trở lại trong anh, anh đã tìm ra manh mối của vấn đề…

Đêm ấy, cô không ngũ được, lần đầu tiên trong đời cô không ngủ được, ánh mắt van lơn của chàng trai bên bờ suối theo cả vào trong giấc mơ, ánh mắt mơn trớn, vuốt ve cô. Tâm hồn rạo rực, người nóng ran, cô lang thang ra rừng. Cô không hề kể cho cha cô nghe chuyện này, ông sẽ giết anh ấy mất, ông rất ghét con người, đó là điều bí mật ông không bao giờ kể cho cô nghe.

Không hẹn nhau, ngày hôm sau và nhiều ngày sau nữa họ gặp nhau bên bờ suối, giống như duyên nợ tiền định…

Cô đã ngây thơ kể cho anh nghe về người cha kỳ cục của mình và quãng đời sống cơ cực trong rừng sâu, suốt mấy chục năm qua. May mắn, ông còn cho cô về buôn làng để giao tiếp với người Chơ Ro, người dân tộc ở miền Đông này không giống như ở Tây Nguyên, ngôn ngữ chính của họ là tiếng Kinh, nhờ đó mà cô biết được nhiều chuyện của xã hội loài người, dù vậy cô vẫn là con người hồn nhiên, hoang dã cho tới ngày cô gặp anh…

Thành sẽ phải bắt cha của cô, đó là nhiệm vụ, anh không thể làm khác được, anh đã xác định được tên tôi phạm truy nã mà cơ quan công an đã tìm kiếm suốt mười lăm năm qua. Nhưng anh không muốn làm cô hoảng sợ, ngồi thu mình trong bụi cây anh chờ cô ra ngoài để hành động, anh chợt nhớ lời mẹ anh, trước khi anh lên đường vào trường đại học Cảnh sát, mẹ nói: "Con hãy suy nghĩ cho kỹ, mẹ biết con đau lòng về cái chết của cha con, nhưng tư chất nghệ sĩ của con không theo nghề này được!" Bây giờ anh mới thấy mẹ nói đúng, nhưng dù sao anh cũng phải hoàn thành nhiệm vụ này, nhiệm vụ đầu tiên trong đời làm cảnh sát hình sự của mình. Nhất định cô ấy phải ra, anh sẽ bắt cha cô rồi thuyết phục cô trở lại với xã hội loài người, anh sẽ đùm bọc cho cô.

***

Hắn ném thêm một thanh củi vào đống lửa, con bé lại trở mình. Lạ thật! Cả tháng này con bé thẩn thờ như người mất hồn, từ khi con bé lớn đến giờ, hắn không dám nhìn vào mặt con. Hắn sợ gương mặt ấy lắm, sao mà nó giống nàng như đúc, quả là oan nghiệt ! Hắn nhớ rất rõ cái ngày khốn nạn ấy…!

Của như núi, ăn mãi rồi cũng phải hết, khi đứa con gái đầu lòng được hai tuổi, nàng suốt ngày soi gương và than phiền, vì hết tiền nàng buộc lòng phải thay đổi kem dưỡng da loại rẻ tiền nên da nàng không còn tươi như trước. Hắn bảo nàng không phải lo, hắn sẽ lên rừng kiếm ít đá đỏ, mỏ đá mà hắn phát hiện mới lấy một ít, khi trở về hắn cẩn thận lấp lại để đó. Hắn hôn nàng rồi lên đường, mẹ hắn vào buồng tụng kinh.

Ngọn lửa tàn dần, hắn lại ném vào đống lửa một cành cây, con chím cú rúc lên những âm thanh ma quái trên cây lim già trước căn chòi. Bỗng dưng tiếng rúc ngưng giữa chừng, khu rừng tĩnh lặng mọi thứ im bặt, hắn bật dậy đặt tay vào chuôi dao. Vài phút sau, có tiếng cú rúc trở lại, hắn thở phào ngồi xuống, con gái hắn trở mình nhìn cha, rồi nhắm mắt. Mười mấy năm sống trong rừng với cha, con bé nhanh như sóc, nhấp nháy nó có thể phóng lên ngọn cây tranh nhau với lũ khỉ hái mớ trái gùi.
Hắn trở lại vùng đá đỏ không thuận lợi như lần trước, hầm đá mà hắn phát hiện đã có người khai thác.

Nhưng hắn không nản lòng, hắn sẽ tìm chỗ khác, đất ở đây mênh mông hắn lo gì. Lúc này công an truy quét dữ lắm, nhưng hắn có bửu bối, chú hắn đã có lời nhắn gởi cho một người bạn làm lớn ở vùng này, nên hắn hoạt động tự do. Hắn hì hục suốt sáu tháng trời nhưng chưa trúng quả như lần đầu, hắn sẽ không trở về, nhất định như thế. Nàng sẽ trách hắn để cho nàng thiếu thốn. Hắn yêu nàng, hắn không muốn nhìn thấy cái cau mày của nàng. Hắn biết ơn nàng. Xung quanh nàng có bao nhiêu người săn đón, nhưng nàng chọn hắn.

Hắn phải làm cho cuộc sống của nàng sung sướng. Lần này hắn sẽ cố kiếm thật nhiều tiền rồi giải nghệ nghề đào đá. Hắn sẽ nhờ chú kiếm một chỗ ở chợ huyện để mở một sạp vải cho vợ buôn bán. Trời lại mưa, hắn nằm ngữa, gối đầu trên đùi cô gái điếm. Nhà thổ phục vụ cho dân đào đá đỏ mọc lên từ lúc bãi đá mới có vài mươi người. Những cô gái điếm quá tuổi xuân dạt lên đây kiếm sống. Tuy nhan sắc tàn phai nhưng họ cũng giúp cho những tay đào đá khoẻ mạnh giải quyết khoản khao khát đàn bà. Hắn không bao giờ đụng đến bọn này, hắn chỉ cần chúng đấm lưng, nhổ tóc ngứa và hát cải lương cho hắn nghe thôi. So với vợ hắn , bọn này chỉ là con quạ xấu xí trước con công sặc sỡ.

Trứơc khi lấy hắn, nàng cũng là kỹ nữ, nhưng kỹ nữ hạng sang, nàng chỉ chấp nhận đi chơi với những ai có xe hơi. Hắn là trường hợp ngoại lệ. Hắn bị nàng hớp hồn sau lần hắn được chú hắn đưa vào quán karaoke, gặp nàng hắn thấy đám bạn gái kiêu kỳ ở trường trung học chỉ là đám trẻ ranh. Chú hắn đã tạo mọi điều kiện cho hắn gặp nàng, nàng đã chiếu cố sau nhiều ngày hắn quỳ dưới chân nàng. Cậu học sinh trung học hoang đàng biết mùi đàn bà trong một cơn say, hắn cầu xin nàng làm vợ hắn, nàng đồng ý nhưng với điều kiện hắn phải đảm bảo cho nàng một cuộc sống sung sướng.

Hắn lên đường kiếm tiền, lần ấy hắn gặp may và đã có được nàng. Hắn mơ màng nghĩ đến ngày hắn trở về, nàng sẽ đón hắn bằng nụ cươi tươi rói ngay đầu ngõ. Hắn sẽ vần cho nàng một trận ra trò, hắn không muốn phí sức với đám đĩ rài, đĩ rạc này. Hắn cũng nhớ con nữa, đứa con gái có đôi môi nhỏ xíu chúm chím mỗi khi hắn đặt nụ hôn trên đôi má thơm tho của nó. Đang mơ màng, mụ chủ quán sầm sập đá vào người hắn.

-Dậy đi, có người dưới xuôi báo tin mẹ mày chết rồi, chết cả tháng nay.

- Thật à ?

Hắn bật dậy như cái lò xo, bàng hoàng hỏi một câu thừa. Mẹ hắn đã chết ư? Hắn đúng là đứa con bất hiếu, mấy tháng qua hình ảnh nàng chiếm hết tâm trí, khiến hắn quên mất hình ảnh người mẹ tần tảo ngày xưa nuôi hắn khôn lớn. Hắn vơ vội túi đá vụn rồi lao ra đường. Về đến nhà trời đã khuya, hắn nghe tiếng con gái khóc. Hắn ngưng lại, với kinh nghiệm của một kẻ giang hồ bãi đá hắn nhận ra chuyện khác thường.

Dưới ánh trăng mờ mờ hắn thấy chiếc xe gắn máy của ai giấu bụi chuối sau hè. Hắn rón rén như con mèo rừng, tay đặt lên chuôi dao găm đeo bên hông, lưỡi dao lê của Mỹ sắc như nước luôn được hắn đeo bên mình, đó là thói quen của dân đào đá đỏ. Ghé tai vào cánh cửa gỗ, hắn nghe tiếng rên nho nhỏ trong cổ họng của người đàn bà, tiếng rên này hắn quen thuộc lắm, tiếng rên đĩ thỏa của nàng. Mặt nóng bừng, hắn đạp cửa xông vào, hai tấm thần trần truồng thổn thện trắng lốp nổi lên giữa bóng tối mờ mờø, bọn chúng làm trò bỉ ổi ngay trên ghế salon, trước bàn thờ của mẹ hắn. Hắn vung dao, gã đàn ông vọt chạy về phía cửa sau, hắn lao theo. Nàng chồm lên ôm chân hắn.

Không kịp suy nghĩ, hắn vung dao đâm xuống, lưỡi dao ngập vào tấm lưng trần trắng toát của nàng, hắn rút dao máu vọt thành vòi, nàng hực lên ngã xuống, hắn hất nàng ra và lao theo gã đàn ông, nhưng đã trễ, tiếng xe máy nổ xa dần trong đêm tối. Hắn quay lại sững sờ chết lặng bên xác nàng. Hắn hoàn toàn không ngờ điều khốn nạn này đã xảy ra trong ngày hắn trở về.

Oe…o..e..oe…

Tiếng khóc của con gái kéo nó về thực tại, hắn chợt nhận ra mọi chuyện, hắn bế thốc con gái và băng mình vào đêm tối…

Mới đó mà đã mười lăm năm rồi, mười lăm năm trốn tránh khắp nơi, cuối cùng hắn quyết định sống trong rừng sâu của miền Đông Nam bộ này… Mười lăm năm, mà hắn nhớ rõ mồn một như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua...

Thành nhìn đồng hồ dạ quang, đã ba giờ sáng, khẩu súng trong tay anh lạnh ngắt tê buốt. Thành căng mắt trong đêm tối, ngọn lửa vẫn âm thầm cháy. Một bóng người ra khỏi căn chòi, chính là cô ấy. Cuối cùng sự chờ đợi của Thành cũng đã đến, cô bé đi về phía dòng suối, rời chỗ ẩn nấp, anh rón rén đi về phía căn chòi. Thành áp sát căn chòi rồi bất thần đạp cửa bung vào, nhưng anh đã chậm, chưa kịp bóp cò thanh củi đã giáng xuống tay Thành, khẩu súng văng ra, anh lao vào hắn, nhưng hắn nhẹ nhàng lách qua một bên, thuận tay hắn rút lưỡi dao găm bên hông.

Trong lúc Thành lỡ đà, hắn đã vung dao lên, lưỡi dao sáng loáng dưới ánh lửa. Bỗng có người xô mạnh, Thành loạng choạng dạt qua và sau đó là một tiếng rú dài vang động cả khu rừng..! Cô bé đã hứng trọn lưỡi dao của cha mình trên bả vai. Hắn không ngờ con gái bất thần quay lại và lao vào cứu kẻ lạ mặt này, hắn lại phạm thêm trọng tội, hắn hú lên thống khổ đau đớn và phóng mình vào bóng đêm của rừng già.

Cô gái ngã trong vòng tay Thành, rất may lưỡi dao không trúng chỗ hiểm, anh rút lưỡi dao, xé phăng chiếc áo sơ mi băng vội vết thương và vác cô chạy về buôn. Anh chạy bằng tất cả sức lực trai trẻ của mình, cô đã được đưa lên bệnh viện trước khi trời sáng…
 
***
 
Mười hai giờ trưa, cô qua cơn nguy kịch, anh thẩn thờ rời phòng bệnh. Trước cổng bệnh viện, mọi người xúm quanh gã người rừng, gã dựa vào gốc cây xà cừ trước cổng bệnh viện, cúi đầu ủ rủ. Gã đứng như thế cả giờ đồng hồ qua. Khi Thành ra cổng, gã nhìn anh bằng đôi mắt buồn bã rồi đưa hai tay về phía anh, anh móc chiếc còng trong túi quần tra vào tay gã. Gã cố nhìn qua hàng rào bệnh viện, Thành khẽ gật đầu và nói thật nhỏ chỉ vừa đủ gã nghe: "Con gái ông đã được cứu sống" Gã lặng lẽ đi theo anh.

Người đàn ông đường bệ từ chiếc xe hơi bên kia đường bước xuống, nhìn theo gã người rừng, mĩm cười quay lên xe. Ông tin rằng gã không thể biết khu đất của gã, ông đang sở hữu theo luật thừa kế đang có giá hàng tỷ đồng. Con đường chạy ngang qua mảnh đất hương hoả được ông duyệt theo quy hoạch từ ngày gã còn đi đào đá đỏ nay đã làm xong.

Ông cũng tin rằng gã không thể biết người đàn ông mà gã giết hụt đêm đó chính là ông. Mười lăm năm rồi còn gì, không chỉ gã mà không ai có thể biết được chuyện của ông làm, không một ai biết được! Ông dựa người ra nệm xe và tự thưởng cho mình một điếu ba số năm thơm lừng. Mãn nguyện với sự thông minh của mình, ông lẩm bẩm: "Cuộc đời này đâu cứ phải học nhiều là sẽ giỏi !".

Anh tài xế khẽ mỉm cười…

Giếng tiên

Truyện ngắn Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

* Truyện ngắn của Nguyễn Một

Tôi ngồi sau bàn chị Phương và chỉ cần nhích tay khỏi khe để viết chừng hai tấc là có thể chạm vào tấm lưng thon thả của chị . Vị giáo sư đang cố gắng cung cấp cho lớp học về trình tự của một giờ đạo đức, một môn học đơn điệu mà học viên của lớp “Sư phạm tại chức” này đã quá quen thuộc . “Dạy đạo đức mà phương pháp là rất quan trọng vì ....” Giọng thầy giáo đều đều như giọng ông tôi kể chuyện . Vài mái đầu điểm bacû gật gù ra vẻ thích thú.

Chị Phương cắm cúi ghi ghi chép chép, từng thớ thịt sau làn áo mỏng hững hờ rung lên từng hồi, các cơ bắp chuyển nhè nhẹ từ vai xuống chổ cong ngay eo. Tôi chăm chú quan sát. Như biết có người nhìn, chị ngừng tay ưỡn lưng, khe xương sống lún sâu hơn tạo thành cái rãnh xinh xắn, cách rãnh ấy bị cắt ngang bởi dây nịt vú màu đen rồi chạy xuống tận thắt lưng. Tôi muốn đặt tay vào giữa sóng lưng ấy. Có cái gì đó thân quen đằng sau mảnh vải mỏng manh ấy. Tôi nhớ chị Sinh, chuỗi liên tưởng hiện về theo “phản ứng dây chuyền” của những sợi dây thần kinh nhạy cảm trong hộp sọ yếu đuối của tôi .

  * *
 
Nhà chị Sinh sát bên nhà tôi, hai nhà cách nhau khoảnh vườn nho nhỏ. Sau vườn có cái giếng nước, cách mặt đất chừng hai sải tay, trong vắt, ngay cả đêm trăng cũng thấy rõ những viên đá cuội dưới đáy giếng. Ông tôi bảo đó là “giếng tiên”. Ngày ông tổ tộc Trần đến lập nghiệp, lúc đó còn rừng rậm, đã có giếng này. Hồi xưa cả làng xài chung, bây giờ người đông nhà nào cũng đào giếng riêng gần nhà .

Vì vậy giếng tiên thành sở hữu của gia đình tôi. Ngôi nhà từ đường to lớn của tộc Trần do ông tôi cai quản, mảnh vườn không lớn lắm nhưng có đủ trái cây. Mẹ con chị Sinh được ông tôi cho cất nhà sau vườn để ở . Ông nói với hàng xóm : “ Nhà có hai ông cháu mà vườn thì rộng để không, ở cho vui “Tôi còn nhỏ nên không hề quan tâm họ từ đâu đến” Mẹ chị Sinh là người đàn bà tốt bụng, bà thường giúp đỡ ông cháu tôi mấy chuyện lặt vặt trong gia đình.

Chị Sinh lớn hơn tôi chừng bốn tuổi, ngày chị thành thiếu nữ, tôi còn là thằng bé mới lớn lên mười. Mỗi đêm hè nóng nực, chị xách gàu rủ tôi ra giếng tiên tắm. Chị thường nhờ tôi chà lưng. Bàn tay nhỏ bé của tôi chạy dọc trên tấm lưng trần thon thả của chị. Sau đó chị quay lại tắm cho tôi, haibầu vú chạm vào mặt tôi nhột nhạt, êm ái. Tôi dụi đầu vào ngực chị, chị cười nức nẻ, cốc đầu tôi và mắng :

- Thằng quỉ nhỏ .

Tôi ngước nhìn chị, ánh trăng loang loáng trên tóc, trên bờ vai trần, làm tôi nghĩ về những cô tiên trong chuyện cổ tích mà ông tôi thường kể . Tôi thầm thì :

- Chị đẹp quá .

Chị lại cười, tiếng cười giòn tan, ánh trăng vỡ vụn trong lòng giếng .

Từ đó tôi thích được tắm, chứ trước đây tôi rất lười tắm thường cả tuần ông tôi mới lôi ra giếng, dùng xơ dừa chà cho đỏ mình để lột cáu ghét bám trên người . Cứ mỗi đêm về tôi lại thấp thỏm chờ chị gọi đi tắm. Nhiều đêm chị đi chơi với anh Tần tôi thơ thẩn ngoài vườn, những đêm ấy tôi thấy khung cảnh của khu vườn buồn lạ lụng, nhất là cây cau sau nhà, có vươn lên bầu trời đầy ánh trăng, im lìm và cô độc .

Những năm tháng lặng lẽ trôi qua chậm chạp trôi qua trong căn nhà từ đường . Ông tôi trầm ngâm hơn bên ấm trà nhỏ bằng cái hột vịt, chẳng mấy khi chịu rời bộ ngựa to đùng trong phòng khách, trừ những lúc lau dọn bàn thờ và lầm rầm khấn vái đầy thành kính. Hễ có đến chơi khề khà vài chung rượu, ông vuốt râu nhìn tôi và nói cái điều mà tôi nghe cả hàng trăm lần :

- Cha mẹ nó chết hồi nó còn nhỏ xíu, tôi nuôi nó bằng nước cơm mà bây giờ lớn vậy đó, học giỏi lắm năm nào cũng được lên lớp .

Tối đến hai ông cháu ôm nhau ngủ, ông lầm rầm kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích không đầu không đuôi, tôi nhớ có cả câu chuyện cô Tiên tắm ở cái giếng sau vườn nhà mình .

Tôi cứ thế lớn lên trong giai điệu buồn bã của những con mọt ăn gỗ trên xà nhà và những lời kể chuyện đều đều vô cảm của ông tôi .

Bẵng đi thời gian khá lâu, từ ngày chị Sinh quen với anh Tân, hai chị em chẳng còn tắm chung. Tôi đâm ghét cái anh chàng thanh niên Thị trấn có khuôn mặt bè bè đến xốn mắt, cứ suốt ngày bám lấy chị Sinh . Tôi vẫn tắm ngoài giếng tiên một mình, nhiều đêm lạnh cóng cả người .

Đến ngày tôi phát hiện ra vệt màu xám đen bằng ngón tay út chạy ngang ở phần cuối bụng dưới, tôi thắc mắc hỏi, ông tôi khề khà bảo :

- Mày lớn rồi .

  Đêm ấy, chị Sinh qua nhà rủ tôi ra bờ giếng chị kéo tôi ngồi trên thành giếng vuốt tóc tôi, rồi nói :

- Chị sắp lấy chồng nhỏ ạ !

ó cái gì đó vỡ òa trong ngực tôi, đớn đau chảy xuống bụng nôn nao. Tôi lặng thinh, nhặt hòn cuội vạch rin rít trên miệng giếng Chị vẫn mơ màng nói bên vai tôi :

  Vài ngày nữa anh Tân sẽ cưới chị, chị lấy chồng xa, chắc khó về thăm em, chị thương em lắm .

ời của chị lẫn vào những cơn gió rào rạt trong vườn, tự dưng nước mắt trào ra, ràn rụa trên mặt, tôi ném hòn sỏi ra xa, òa khóc nức nở. Chị ôm tôi vào lòng vỗ về :

  Thôi nín đi nhỏ. Cưới vợ người ta chê già mà còn nhỏng nhẻo, để chị hát cho cưng nghe nhé .

ôi ngoan ngoãn ngã đầu vào lòng chị. Những “cánh cò vánh vạc” chấp chới trong mơ, làm khô dần những giọt nước mắt tuổi mười ba của tôi .

ốn năm sau chị trở về, mắt chị buồn hơn xưa, nhưng dáng dấp vẫn còn thon thả như thời con gái. Ông tôi thường tặc lưỡi than “Đàn bà đáy thắt lưng ông như con Sinh mà không có con để chồng theo vợ bé, tội nghiệp.”

hị gặp tôi, nhưng chẳng còn ôm tôi như ngày xưa. Bởi lúc này tôi đã trở thành chàng trai cao lớn. Chị trêu tôi .

  Chà. Lớn dữ ha còn khóc nhè nữa không nhỏ ?

ôi đỏ mặt quay đi, chị vô tình làm tôi nhớ lại những giọt nước mắt dại khờ bên bờ giếng tiên. Tôi xấu hổ, về chuyện yếu đuối của mình ngày xưa, nhưng tôi vẫn lén lút nhìn chị . Phải công nhận chị đẹp, đẹp hơn hẳn các cô gái trẻ trong làng . Nhớ màu trắng ngần và cái lõm hằn giữa lưng của chị, mà nhiều lần tôi miết bàn tay mình vào đó, tự dưng mặt đỏ rần, tim đập rừng rực . Tôi ước muốn được một lần nữa chạm vào tấm lưng mềm mại của chị .

ại một đêm trăng, tôi thơ thẩn ra vườn. Cả ngày mệt nhọc với đám giỗ mẹ tôi, cái chết của mẹ, qua lời kể của ông lại hiện về đỏ sẫm dưới ánh trăng “Mẹ mày chất đêm rằm tháng mười linh lắm. Nó phù hộ cho mày mới lớn được như vậy. Mày nhớ ngày mà làm đám giỗ cho đàng hoàng.”Dặn dò tôi xong ông quay qua kể với mọi người “ Tôi còn nhớ hôm đó trăng sáng như ban ngày, đang thiu thiu ngủ nghe heo kêu tôi cầm đèn ra coi thử, đi ngang giường con nhỏ, tôi giẫm nhằm vũng máu mới hay nó chết, tội nghiệp con nhỏ mới mười chín tuổi đầu. Các anh biết không, một viên đạn đại liên trên đồn Bốn lăm bắn xuyên qua đầu con nhỏ, may mà thằng này (ông chỉ tôi) nằm dưới nách mẹ nó, nên viên đạn trượt qua đầu nó làm bị thương con heo đằng sau nhà “ .

Vừa kể vừa gạt nước mắt nước mũi chảy hoàng huệnh trên mặt trên râu. Lúc ấy, ai cũng nhìn tôi với ánh mắt thương hại, tôi cảm thấy khó chịu vô cùng, bây giờ nhớ lại, bất giác rùng mình tôi lắc đầu “ghê rợn quá” Tôi cố quên những hình ảnh đáng sợ ấy, bằng cách nhớ lại tấm lưng trần mềm mại của chị Sinh. Sáng nay, chị qua nhà tôi dự đám giỗ, nhấp tí rượu, gò má đỏ ửng, mắt chị long lanh nhìn tôi . Khi đặt thức ăn lên bàn chị chồm qua vai, ngực chị khẽ đụng vào người tôi, tôi nghe như có dòng điện chạy dọc sống lưng . Tôi đi lần về phía giếng, với niềm hy vọng chị sẽ xuất hiện ,tôi nhớ mình có đọc đâu đó một câu chuyện tương tự như trường hợp của tôi . Chắc chắn tôi sẽ không bỏ lỡ dịp may được chạm vào tấm lưng trần của chị. Nhưng tuyệt nhiên vắng lặng, chỉ có ánh trăng bao trùm vạn vật và những bài ca vô vọng của đám côn trùng đang thi nhau gào thét, nghe mụ cả người .

Sáng hôm sau, tôi khăn về thành phố trọ học, bỏ lại sau lưng tuổi thơ dại khờ với ngôi nhà từ đường rộng thênh thang cùng với người ông mà chiếc bóng mỗi ngày một ngắn lại trong khu vườn buồn bã .

  * * 


“Mười lăm năm, kể từ ngày rằm tháng mười năm ấy “ tôi lẩm bẩm và nhích dần bàn tay trên mặt bàn,” chỉ chút xíu nữa thôi sẽ chạm vào quá khứ“. Tôi tự nhủ như vậy và khẽ nhích thêm bàn tay lên một xen - ti mét nữa, chạm tới ranh giới cuối cùng của mặt bàn . Chị Phương ưỡn lưng về phía trước. Giọng thầy giáo vẫn đều đều về quá trình hình thành nhân cách cho học sinh hay cái gì đó tương tự, lời giảng loáng thoáng vượt qua tai. Mặc kệ, tôi khẽ nhích thêm một chút nữa . Vượt qua giới hạn mặt bàn, bỗng dưng bàn tay tê buốt, lạnh cứng. Người bạn ngồi kế bên đụng vào vai tôi :

  Viết bài đi. Thầy nhìn kìa, làm thơ hả?

ôi giật mình rụt tay lại, thở dài, nhặt cây viết tô đậm đầu bài, hàng chữ duy nhất trên trang giấy . 

 

Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.