May
20
HUYỀN THOẠI VỀ “THÀNH PHỐ ĐẦU TIÊN”
Bút ký Nguyễn Một
Hành trình mở cõi của dân tộc Việt Nam là hành trình Nam tiến. Thời gian có thể làm cho sông cạn đá mòn, nhưng dấu chân của cha ông để lại trên vùng đất phương Nam mênh mang sông nước này không thể xóa nhòa, dù đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Đây là dòng sông Đồng Nai, đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa ngày nay. Nơi đây có một vùng đất đặc biệt, còn lưu rõ dấu chân của cha ông trên bước đường Nam tiến. Vùng đất này có tên gọi là Cù Lao Phố - Thành phố đầu tiên của cư dân Việt ở phương Nam. Ngày nay người ta hay nhắc đến Đức ông Trần Thượng Xuyên và Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh, vì Trần Thượng Xuyên có công tạo nên thương cảng sầm uất trên cù lao và Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh có công định biên miền đất này vào năm 1698. Nhưng trước khi Trần Thượng Xuyên và Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, đã có nhiều người Việt sinh sống tại đây. Họ là những người có công khai phá đất cù lao. Một trong những người có công đầu là Công Chúa Ngọc Vạn. Vì sứ mệnh tổ quốc giao phó phải bang giao với phương Nam, Công Chúa Ngọc Vạn đành gạt lệ ra đi, bỏ lại sau lưng hoàng cung lầu son gác tía để vào miền sông nước này. Thời gian đã xoá đi dấu vết của người. Cũng may một nhà sử học xứ Biên Hòa, ông Lương Văn Lựu đã cất công sưu tầm và ghi lại vài dòng về vị công chúa đã bị lịch sử lãng quên. Xin tóm tắt lại cuộc đời của Công Chúa Ngọc Vạn, người được coi là có công đầu trong hành trình Nam tiến của dân tộc, trong cuốn Biên Hòa sử lược của học giả Lương Văn Lựu:Theo gia phả của Chúa Nguyễn, được Tôn Thất Hân sưu nghi, thì chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên sanh năm Quý Hợi (1563), Vương tôn bà Mạc Thị Giai làm chánh hậu. Bà này sanh hạ ba lịnh nữ: Công chúa Ngọc Vạn là con thứ hai. Năm 1620 Lạp Vương Chây chét ta 2 xin cầu hôn hoàng nữ nước Việt. Sãi Vương thuận gã công chúa Ngọc Vạn cho Chân Lạp. Về sau bà là Hoàng Thái Hậu. Nhân lúc tình hình Chân Lập rắc rối, nhân dân cầu cứu bà đã nhờ Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần can thiệp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân xin nhượng đất Nông Nại cho phủ Chúa. Kể từ đây các cư dân Đại Việt đặt chân đến vùng “gạo trắng nước trong” dưới sự bảo trợ của bà Ngọc Vạn. Những người sinh sống trên đất cù lao ngày hôm nay, ai là hậu duệ của đoàn người theo chân công chúa Ngọc Vạn ngày ấy? Cù lao Phố hôm nay vẫn bình an thanh thản, hiền lành và thủy chung như hàng trăm năm trước. Như ông lão đưa đò đã đưa đoàn làm phim của chúng tôi đi quanh cù lao. Ngày xưa mẹ ông cũng đưa đò ở bến sông này và bây giờ hết đời mình ông truyền lại cho con cháu. Những cây cầu hiện đại chẳng thể làm thay đổi thói quen trong tâm thức người Việt với hai tiếng đò...ơi thân thương trong hành trình mở cõi.Ông lão đưa đò còn kể cho chúng tôi nghe câu chuyện tình kỳ lạ bên ngôi chùa cổ nhất miền Nam, một câu chuyện làm chúng tôi kinh ngạc, dù có thể nó chỉ là truyền thuyết... Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành không rõ năm sinh, là nhà sư đầu tiên ở miền Nam được phong quốc sư. Với kiến thức Phật học uyên bác ông được vời về kinh để giảng dạy cho hoàng tộc. Tại kinh đô, bà cô ruột của vua Minh Mạng thọ giới bồ tát, được ông ban pháp danh Tề Minh Thiện Nhựt. Trong những ngày theo học đạo có vị hoàng em ruột của vua cô yêu say đắm nhà sư. Năm 1821 sư phụ của ông là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc viên tịch, ông trở về miền Nam chịu tang rồi ở lại chùa luôn. Những tưởng tránh được oan tình ràng buộc, nào ngờ vị Hoàng cô si tình tìm đến tận nơi. Ông quyết định nhập thất hai năm, tránh không gặp mặt người đàn bà si tình, nhưng Hoàng cô quyết liệt xin được nắm tay ông. Cảm động trước tấm tình ấy ông đưa tay ra cửa sổ cho bà hôn. Đêm ấy ông tự thiêu sau khi ghi lại bài kệ trên vách để bày tỏ tấm lòng trong sạch của mình. Điều lạ là mọi thứ cháy hết nhưng bài kệ ông ghi trên vách vẫn còn, đến nay nhiều nhà sư thuộc bài kệ này của thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt. Ba ngày sau khi an táng thiền sư, Hoàng cô cũng uống độc dược quyên sinh tại chùa Đại Giác. Chúng tôi lên bờ và tìm đến với ngôi chùa được xác định là ngôi chùa của người Việt cổ nhất miền Nam. Theo thư tịch còn lại thì chùa Đại Giác thành lập từ năm 1412 có nghĩa là trước sự có mặt của Ngọc Vạn công chúa hơn 2 thế kỷ. Ngày đó ngôi chùa là một cái am nhỏ thờ Phật của người Việt. Dần dần dân cư đến sinh sống đông đúc, họ xây trên mảnh đất ấy một ngôi chùa lớn. Chùa Đại Giác còn có tên gọi khác là chùa Tượng, ni sư Diệu Trí Huệ giải thích: Chữ tượng ở đây không phải là tượng phật mà là Voi, vì 1802 vua Gia Long đã cho đàn voi đến chở đất đắp sân xây lại chùa, khi công trình hoàn thành ông cho thợ tạc pho tượng phật Di Đà bằng gỗ quí cao gần hai mét đến nay vẫn còn thờ tại chính điện.Năm 1801 bị quân Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Ánh đã đến trú ẩn tại đây. Trong bầu đoàn thê tử của ngài có công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh là người uyên thâm về Phật học, công chúa xuất gia đầu Phật và ở đây cho đến khi vua cha lên ngôi và triệu hồi về kinh. Theo nhà sư Huệ Thiền thì không ai rõ tên Đại Giác tự có từ lúc nào, khi công chúa về kinh bà đã để lại bài kệ giải thích ý nghĩa hai chữ Đại Giác.Câu chuyện của Đại Giác tự và câu chuyện bà Ngọc Vạn có thể khẳng định những cư dân Việt có mặt tại đây từ năm 1650. Ngày nay trên cù lao vẫn còn những cảnh hoang sơ như thời mở cõi, những cảnh làng quê thanh bình yên ả bên dòng Đồng Nai bốn mùa xanh thẳm. Vùng đất này chính thức xác nhập vào nước Đại Việt ta từ năm Kỷ Mùi (1679). Khi ấy, dưới đời Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần, Trần Thượng Xuyên dẫn ba ngàn quân tướng nhà Minh chạy về phương Nam lánh nhà Thanh, được chúa Nguyễn cho phép khai phá phương Nam, đến vùng sông nước mênh mông, cây cối xanh tốt, nai ăn cỏ từng đàn trên bờ, cá bơi lềnh mặt nước, đất lành chim đậu, Trần Thượng Xuyên cho dừng quân tại ngã ba sông này và lập ra xã Thanh Hà, có nghĩa là sông nước trong. Cuộc di dân với quy mô lớn của cộng đồng người Hoa đã để lại cho mảnh đất Cù Lao nhiều di sản quý báu, một trong di sản ấy còn tồn tại đến ngày nay là Chùa Ông. Chùa ông nguyên thuỷ là Miếu Quan Đế, thờ Quan Công và các vị tổ của các nghề cổ như nghề mộc, nghề nông, nghề đá. Ngày nay chùa Ông còn có tên chữ là Thất Phủ Cổ Miếu. Đây là ngôi chùa được ông nội của Trịnh Hoài Đức xây dựng trước nhất ở miền Nam vào khoảng năm 1684.Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc hình chữ khẩu. Bên ngoài chùa là cả một công trình độc đáo các tượng gốm men xanh về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt... Thêm vào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạo ra đã tạo nên kiểu thức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa.Là một nơi thờ tự, tín ngưỡng, với kiến trúc khá độc đáo Trong vòng vài mươi năm, nhờ tài tháo vát, Trần Thượng Xuyên cùng đồng bào Hoa – Việt mở mang đường sá xây nhiều phố phường, lập thương cảng sầm uất. Cảnh phồn Thịnh của Cù Lao phố lúc bấy giờ được sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại: “ Nhà ngói, vách vôi, lầu quá đôi từng, rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch làm ba nhai lộ: Nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh... Đến nay đã trên ba trăm năm, trải qua bao loạn lạc thăng trầm, những con đường đẹp đẽ ấy đã được thay bằng những con đường nhựa. Những khu phố chậm rãi, hiền hoà tồn tại suốt ba trăm năm qua, bình yên như tự bao giờ trên mảnh đất cù lao này. Cuộc di dân của những người Hoa đến Cù Lao không chỉ tạo ra vùng Nông Nại đại phố sầm uất, mà cuộc phối ngẫu đẹp đẽ ấy còn để lại cho đất nước những con người xuất sắc. Và một trong những con người được sinh ra bởi cuộc hôn nhân Hoa Việt ấy chính là Trịnh Hoài Đức. Người đã để lại tác phẩm bất hủ Gia Định thành thông chí. Trịnh Hoài Đức sinh năm Ất Dậu - 1765, tại Bình Trước, Biên Hòa, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai. Năm 1775 cha ông qua đời khi ông mới 10 tuổi, mẹ ông đem con về trấn Phiên An tức Gia Định sinh sống. Đến năm 1782, bà cho con đến thọ giáo nhà giáo dục nổi tiếng thời bấy giờ là Võ Trường Toản. Khi quân Tây Sơn vào đánh đất Gia Định thì ông lánh nạn sang Chân Lạp tức Campuchia ngày nay. Năm 1788, ông thi đỗ và được nhà Nguyễn bổ chức Hàn lâm viện chế cáo, ngày càng được vua Gia Long trọng dụng. Ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn và thẳng tiến trên hoạn lộ: tri huyện phủ Tân Bình, Đông cung thị giảng lo việc giảng dạy cho hoàng tử. Rồi được phong Hiệp bộ thượng thư, Thượng thư bộ hộ, Thượng thư bộ lại, Tổng trấn Gia Định… Có thời, Trịnh Hoài Đức được cử làm thượng thư của cả hai bộ: Bộ Lại và bộ Binh. Nhiều lần, ông được cử làm chánh sứ sang Trung quốc. Ông mất năm Ất Dậu 1825, hưởng thọ tròn sáu mươi tuổi. Đương thời, vua Minh Mạng vô cùng thương tiếc, truyền bãi chầu ba ngày, truy phong Thiếu phó cần chánh diện Đại học sĩ. Thi hài ông được rước từ kinh đô Huế vào Biên Hòa, do hoàng thân Miên Hoàng trực tiếp đứng ra tổ chức rồi đưa về tận quê hương Bình Trước an táng.Ghi nhận công lao to lớn và tấm gương thanh khiết của Trịnh Hoài Đức, trải bao đời người dân đã tỏ một lòng tôn kính và biết ơn ông.Sinh thời, tuy làm quan to nhưng Trịnh Hoài Đức nổi tiếng thanh liêm, suốt đời sống thanh bạch, mang cốt cách của một nhà nho, nhà nghệ sỹ lớn. Cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, Trịnh Hoài Đức lập ra nhóm Bình Dương thi xã, được người đời xưng tụng là Gia Định tam gia. Ông để lại hai tập thơ: Cấn Trai thi tập và Bắc sứ thi tập làm trong thời gian đi sứ Trung Quốc. Ông mất, theo ước nguyện của ông, di hài được an táng tại quê mẹ. Chúng tôi đi giữa những ngôi mộ đá ở vùng Biên Hòa, gần nơi yên nghỉ của Trịnh Hoài Đức. Khung cảnh đầy vẻ hoang sơ, gợi nhớ về một thời mở đất. Thật may mắn khi cuộc sống hiện đại chưa đụng chạm nhiều đến thế giới lặng im này. Không biết người dưới mộ là những ai. Có phải là những người trong đoàn quân Nam tiến thuở xưa hay không? Ta lặng đếm thử bao nhiêu thế kỷ Đã trôi qua trong một phút vội vàng Câu thơ của Chế thi sĩ văng vẳng đâu đây. . Tương truyền người bạn của Trịnh Hoài Đức là Ngô Nhơn Tịnh, vốn là nhà địa lý giỏi đã chọn thế đất đẹp có dòng suối bao quanh xanh mát chảy ra hồ nước trong vắt quanh năm để làm nơi yên nghỉ cho Trịnh Hoài Đức.Ngày này con suối đã biến mất thay vào đó là cảnh phố xá, nhưng bờ hồ nơi ông nằm nhìn ra vẫn còn dù chẳng có thể đẹp như ngày xưa.Hoàng hôn buông xuống trên Cù Lao Phố. Ngàn vạn buổi hoàng hôn êm đềm như thế này đã đi qua đây. Hồn tiền nhân nay ở đâu? Chỉ thấy gió ngàn xưa lay động trong bóng dừa.
Bút ký Nguyễn Một
Hành trình mở cõi của dân tộc Việt Nam là hành trình Nam tiến. Thời gian có thể làm cho sông cạn đá mòn, nhưng dấu chân của cha ông để lại trên vùng đất phương Nam mênh mang sông nước này không thể xóa nhòa, dù đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Đây là dòng sông Đồng Nai, đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa ngày nay. Nơi đây có một vùng đất đặc biệt, còn lưu rõ dấu chân của cha ông trên bước đường Nam tiến. Vùng đất này có tên gọi là Cù Lao Phố - Thành phố đầu tiên của cư dân Việt ở phương Nam. Ngày nay người ta hay nhắc đến Đức ông Trần Thượng Xuyên và Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh, vì Trần Thượng Xuyên có công tạo nên thương cảng sầm uất trên cù lao và Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh có công định biên miền đất này vào năm 1698. Nhưng trước khi Trần Thượng Xuyên và Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, đã có nhiều người Việt sinh sống tại đây. Họ là những người có công khai phá đất cù lao. Một trong những người có công đầu là Công Chúa Ngọc Vạn. Vì sứ mệnh tổ quốc giao phó phải bang giao với phương Nam, Công Chúa Ngọc Vạn đành gạt lệ ra đi, bỏ lại sau lưng hoàng cung lầu son gác tía để vào miền sông nước này. Thời gian đã xoá đi dấu vết của người. Cũng may một nhà sử học xứ Biên Hòa, ông Lương Văn Lựu đã cất công sưu tầm và ghi lại vài dòng về vị công chúa đã bị lịch sử lãng quên. Xin tóm tắt lại cuộc đời của Công Chúa Ngọc Vạn, người được coi là có công đầu trong hành trình Nam tiến của dân tộc, trong cuốn Biên Hòa sử lược của học giả Lương Văn Lựu:Theo gia phả của Chúa Nguyễn, được Tôn Thất Hân sưu nghi, thì chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên sanh năm Quý Hợi (1563), Vương tôn bà Mạc Thị Giai làm chánh hậu. Bà này sanh hạ ba lịnh nữ: Công chúa Ngọc Vạn là con thứ hai. Năm 1620 Lạp Vương Chây chét ta 2 xin cầu hôn hoàng nữ nước Việt. Sãi Vương thuận gã công chúa Ngọc Vạn cho Chân Lạp. Về sau bà là Hoàng Thái Hậu. Nhân lúc tình hình Chân Lập rắc rối, nhân dân cầu cứu bà đã nhờ Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần can thiệp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân xin nhượng đất Nông Nại cho phủ Chúa. Kể từ đây các cư dân Đại Việt đặt chân đến vùng “gạo trắng nước trong” dưới sự bảo trợ của bà Ngọc Vạn. Những người sinh sống trên đất cù lao ngày hôm nay, ai là hậu duệ của đoàn người theo chân công chúa Ngọc Vạn ngày ấy? Cù lao Phố hôm nay vẫn bình an thanh thản, hiền lành và thủy chung như hàng trăm năm trước. Như ông lão đưa đò đã đưa đoàn làm phim của chúng tôi đi quanh cù lao. Ngày xưa mẹ ông cũng đưa đò ở bến sông này và bây giờ hết đời mình ông truyền lại cho con cháu. Những cây cầu hiện đại chẳng thể làm thay đổi thói quen trong tâm thức người Việt với hai tiếng đò...ơi thân thương trong hành trình mở cõi.Ông lão đưa đò còn kể cho chúng tôi nghe câu chuyện tình kỳ lạ bên ngôi chùa cổ nhất miền Nam, một câu chuyện làm chúng tôi kinh ngạc, dù có thể nó chỉ là truyền thuyết... Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành không rõ năm sinh, là nhà sư đầu tiên ở miền Nam được phong quốc sư. Với kiến thức Phật học uyên bác ông được vời về kinh để giảng dạy cho hoàng tộc. Tại kinh đô, bà cô ruột của vua Minh Mạng thọ giới bồ tát, được ông ban pháp danh Tề Minh Thiện Nhựt. Trong những ngày theo học đạo có vị hoàng em ruột của vua cô yêu say đắm nhà sư. Năm 1821 sư phụ của ông là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc viên tịch, ông trở về miền Nam chịu tang rồi ở lại chùa luôn. Những tưởng tránh được oan tình ràng buộc, nào ngờ vị Hoàng cô si tình tìm đến tận nơi. Ông quyết định nhập thất hai năm, tránh không gặp mặt người đàn bà si tình, nhưng Hoàng cô quyết liệt xin được nắm tay ông. Cảm động trước tấm tình ấy ông đưa tay ra cửa sổ cho bà hôn. Đêm ấy ông tự thiêu sau khi ghi lại bài kệ trên vách để bày tỏ tấm lòng trong sạch của mình. Điều lạ là mọi thứ cháy hết nhưng bài kệ ông ghi trên vách vẫn còn, đến nay nhiều nhà sư thuộc bài kệ này của thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt. Ba ngày sau khi an táng thiền sư, Hoàng cô cũng uống độc dược quyên sinh tại chùa Đại Giác. Chúng tôi lên bờ và tìm đến với ngôi chùa được xác định là ngôi chùa của người Việt cổ nhất miền Nam. Theo thư tịch còn lại thì chùa Đại Giác thành lập từ năm 1412 có nghĩa là trước sự có mặt của Ngọc Vạn công chúa hơn 2 thế kỷ. Ngày đó ngôi chùa là một cái am nhỏ thờ Phật của người Việt. Dần dần dân cư đến sinh sống đông đúc, họ xây trên mảnh đất ấy một ngôi chùa lớn. Chùa Đại Giác còn có tên gọi khác là chùa Tượng, ni sư Diệu Trí Huệ giải thích: Chữ tượng ở đây không phải là tượng phật mà là Voi, vì 1802 vua Gia Long đã cho đàn voi đến chở đất đắp sân xây lại chùa, khi công trình hoàn thành ông cho thợ tạc pho tượng phật Di Đà bằng gỗ quí cao gần hai mét đến nay vẫn còn thờ tại chính điện.Năm 1801 bị quân Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Ánh đã đến trú ẩn tại đây. Trong bầu đoàn thê tử của ngài có công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh là người uyên thâm về Phật học, công chúa xuất gia đầu Phật và ở đây cho đến khi vua cha lên ngôi và triệu hồi về kinh. Theo nhà sư Huệ Thiền thì không ai rõ tên Đại Giác tự có từ lúc nào, khi công chúa về kinh bà đã để lại bài kệ giải thích ý nghĩa hai chữ Đại Giác.Câu chuyện của Đại Giác tự và câu chuyện bà Ngọc Vạn có thể khẳng định những cư dân Việt có mặt tại đây từ năm 1650. Ngày nay trên cù lao vẫn còn những cảnh hoang sơ như thời mở cõi, những cảnh làng quê thanh bình yên ả bên dòng Đồng Nai bốn mùa xanh thẳm. Vùng đất này chính thức xác nhập vào nước Đại Việt ta từ năm Kỷ Mùi (1679). Khi ấy, dưới đời Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần, Trần Thượng Xuyên dẫn ba ngàn quân tướng nhà Minh chạy về phương Nam lánh nhà Thanh, được chúa Nguyễn cho phép khai phá phương Nam, đến vùng sông nước mênh mông, cây cối xanh tốt, nai ăn cỏ từng đàn trên bờ, cá bơi lềnh mặt nước, đất lành chim đậu, Trần Thượng Xuyên cho dừng quân tại ngã ba sông này và lập ra xã Thanh Hà, có nghĩa là sông nước trong. Cuộc di dân với quy mô lớn của cộng đồng người Hoa đã để lại cho mảnh đất Cù Lao nhiều di sản quý báu, một trong di sản ấy còn tồn tại đến ngày nay là Chùa Ông. Chùa ông nguyên thuỷ là Miếu Quan Đế, thờ Quan Công và các vị tổ của các nghề cổ như nghề mộc, nghề nông, nghề đá. Ngày nay chùa Ông còn có tên chữ là Thất Phủ Cổ Miếu. Đây là ngôi chùa được ông nội của Trịnh Hoài Đức xây dựng trước nhất ở miền Nam vào khoảng năm 1684.Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc hình chữ khẩu. Bên ngoài chùa là cả một công trình độc đáo các tượng gốm men xanh về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt... Thêm vào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạo ra đã tạo nên kiểu thức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa.Là một nơi thờ tự, tín ngưỡng, với kiến trúc khá độc đáo Trong vòng vài mươi năm, nhờ tài tháo vát, Trần Thượng Xuyên cùng đồng bào Hoa – Việt mở mang đường sá xây nhiều phố phường, lập thương cảng sầm uất. Cảnh phồn Thịnh của Cù Lao phố lúc bấy giờ được sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại: “ Nhà ngói, vách vôi, lầu quá đôi từng, rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch làm ba nhai lộ: Nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh... Đến nay đã trên ba trăm năm, trải qua bao loạn lạc thăng trầm, những con đường đẹp đẽ ấy đã được thay bằng những con đường nhựa. Những khu phố chậm rãi, hiền hoà tồn tại suốt ba trăm năm qua, bình yên như tự bao giờ trên mảnh đất cù lao này. Cuộc di dân của những người Hoa đến Cù Lao không chỉ tạo ra vùng Nông Nại đại phố sầm uất, mà cuộc phối ngẫu đẹp đẽ ấy còn để lại cho đất nước những con người xuất sắc. Và một trong những con người được sinh ra bởi cuộc hôn nhân Hoa Việt ấy chính là Trịnh Hoài Đức. Người đã để lại tác phẩm bất hủ Gia Định thành thông chí. Trịnh Hoài Đức sinh năm Ất Dậu - 1765, tại Bình Trước, Biên Hòa, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai. Năm 1775 cha ông qua đời khi ông mới 10 tuổi, mẹ ông đem con về trấn Phiên An tức Gia Định sinh sống. Đến năm 1782, bà cho con đến thọ giáo nhà giáo dục nổi tiếng thời bấy giờ là Võ Trường Toản. Khi quân Tây Sơn vào đánh đất Gia Định thì ông lánh nạn sang Chân Lạp tức Campuchia ngày nay. Năm 1788, ông thi đỗ và được nhà Nguyễn bổ chức Hàn lâm viện chế cáo, ngày càng được vua Gia Long trọng dụng. Ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn và thẳng tiến trên hoạn lộ: tri huyện phủ Tân Bình, Đông cung thị giảng lo việc giảng dạy cho hoàng tử. Rồi được phong Hiệp bộ thượng thư, Thượng thư bộ hộ, Thượng thư bộ lại, Tổng trấn Gia Định… Có thời, Trịnh Hoài Đức được cử làm thượng thư của cả hai bộ: Bộ Lại và bộ Binh. Nhiều lần, ông được cử làm chánh sứ sang Trung quốc. Ông mất năm Ất Dậu 1825, hưởng thọ tròn sáu mươi tuổi. Đương thời, vua Minh Mạng vô cùng thương tiếc, truyền bãi chầu ba ngày, truy phong Thiếu phó cần chánh diện Đại học sĩ. Thi hài ông được rước từ kinh đô Huế vào Biên Hòa, do hoàng thân Miên Hoàng trực tiếp đứng ra tổ chức rồi đưa về tận quê hương Bình Trước an táng.Ghi nhận công lao to lớn và tấm gương thanh khiết của Trịnh Hoài Đức, trải bao đời người dân đã tỏ một lòng tôn kính và biết ơn ông.Sinh thời, tuy làm quan to nhưng Trịnh Hoài Đức nổi tiếng thanh liêm, suốt đời sống thanh bạch, mang cốt cách của một nhà nho, nhà nghệ sỹ lớn. Cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, Trịnh Hoài Đức lập ra nhóm Bình Dương thi xã, được người đời xưng tụng là Gia Định tam gia. Ông để lại hai tập thơ: Cấn Trai thi tập và Bắc sứ thi tập làm trong thời gian đi sứ Trung Quốc. Ông mất, theo ước nguyện của ông, di hài được an táng tại quê mẹ. Chúng tôi đi giữa những ngôi mộ đá ở vùng Biên Hòa, gần nơi yên nghỉ của Trịnh Hoài Đức. Khung cảnh đầy vẻ hoang sơ, gợi nhớ về một thời mở đất. Thật may mắn khi cuộc sống hiện đại chưa đụng chạm nhiều đến thế giới lặng im này. Không biết người dưới mộ là những ai. Có phải là những người trong đoàn quân Nam tiến thuở xưa hay không? Ta lặng đếm thử bao nhiêu thế kỷ Đã trôi qua trong một phút vội vàng Câu thơ của Chế thi sĩ văng vẳng đâu đây. . Tương truyền người bạn của Trịnh Hoài Đức là Ngô Nhơn Tịnh, vốn là nhà địa lý giỏi đã chọn thế đất đẹp có dòng suối bao quanh xanh mát chảy ra hồ nước trong vắt quanh năm để làm nơi yên nghỉ cho Trịnh Hoài Đức.Ngày này con suối đã biến mất thay vào đó là cảnh phố xá, nhưng bờ hồ nơi ông nằm nhìn ra vẫn còn dù chẳng có thể đẹp như ngày xưa.Hoàng hôn buông xuống trên Cù Lao Phố. Ngàn vạn buổi hoàng hôn êm đềm như thế này đã đi qua đây. Hồn tiền nhân nay ở đâu? Chỉ thấy gió ngàn xưa lay động trong bóng dừa.

