bài thơ buồn cho người đã cũ

Chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (10)   
Chắc rằng tôi sẽ quên ngay
Nếu sông không gió, nếu ngày không trưa
Nếu không có những ngày xưa
Đưa em về dưới cơn mưa cuối chiều
Đường dài gió giật liêu xiêu
Thương tôi em rót lời yêu ngọt ngào

Bàn tay gầy guộc xanh xao

Tôi che tứ phía, phía nào cũng mưa

Ước gì đừng có ngày xưa...

Để tôi không biết mình vừa mất nhau

Ước gì còn có ngày sau

Tôi xin vắt kiệt nỗi đau ...đợi người !

Những dòng sông độ lượng - bài 2

Chung Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

Bài 2: DÒNG SÔNG ĐỘ LƯỢNG


Trong một lần, theo nhà văn lão thành Hoàng Văn Bổn về dự đám giỗ ở làng Bình Long. Khu vườn hương hoả của ông chạy dài đến tận mé sông Đồng Nai, con sông lớn nhất miền Đông Nam bộ. Giỗ quảy xong, mọi người về hết, ông rủ chúng tôi ra ngồi bên bờ sông. Ông dõi cặp mắt xa xăm dõi theo cánh lục bình chậm rãi trôi trên sông.

Khác với các con sông ở miền Trung lúc nào cũng ồn ào như một sơn nữ tuổi đôi mươi lúc nhảy múa qua các núi đồi, sông Đồng Nai là một thiếu phụ quí phái và từng trải, nó êm đềm chảy với niềm kiêu hãnh “dòng dõi thuần Việt” của mình. Nó kiêu hãnh cũng đúng, bởi từ nơi nó bắt nguồn đến lúc đổ ra biển khơi, nó nằm hoàn toàn trong lãnh thổ đất Việt. Chúng tôi ồn ào tìm cách xuống sông, còn nhà văn Hoàng Văn Bổn một người gắn bó máu thịt với dòng sông, vẫn lặng lẽ ngồi nhìn đăm đắm giữa dòng sông.

Những tưởng ông đang nghĩ về một đoạn văn nào đó cho cuốn tiểu thuyết mới, nào ngờ than thở với tôi: “Bao giờ cho dòng sông Đồng Nai trở lại bình yên như ngày xưa!” Vừa nói ông vừa đưa tay chỉ ra các xáng cạp đang thọc đôi hàm sắt thô bạo xuống lòng sông ngoạm hàng khối cát đổ lên xà lan. Không chỉ ở chỗ quê ông, mà cả đoạn sông Đồng Nai dài từ Vĩnh Cữu về Biên Hoà hàng ngày phải oằn mình duới hàng chục xáng cạp hoạt động ì ầm suốt cả ngày đêm.

Ngay tại đoạn sông chảy qua thành phố Biên Hoà cũng có một xáng cạp hoạt động liên tục cả năm nay, cứ mỗi buổi nó mang đi một xà lan hàng trăm khối cát. Tôi thích những con sông miền Trung hơn, bởi nó nhiệt tình, dại dột và khốc liệt như tính cách người dân ở nơi “ đòn gánh” của đất nước. Vì vậy lúc đầu tôi ghét cái kiểu quí phái phớt đời của những dòng sông ở miền Nam, nhưng qua văn chương của nhà văn Hoàng Văn Bổn tôi có cảm tình với sông Đồng Nai và dần yêu nó tự lúc nào tôi cũng không nhớ, nhưng bây giờ cứ chiều nào không ra quán Cây Bàng uống ly cà phê đen để ngắm dòng sông Đồng Nai tôi lại thấy nhớ. Nhưng tiếc thay càng nhìn càng buồn, dòng nước mỗi ngày một đục hơn và tanh tưởi hơn với những mùi vị xa lạ với cái mũi có gốc gác nông dân của tôi.

Cái máy hốt cát giữa dòng sông lạnh lùng thản nhiên hành hạ con sông làm tôi xốn mắt, thường những lúc như thế tôi quay về phía cầu Gành để tránh nhìn nó. Những xáng cạp lớn hoạt động công khai giữa bàn dân thiên hạ là của các công ty được cấp giấy phép, còn hàng trăm xáng hoạt động lén lút hoạt động vào ban đêm, đào bới không biết bao nhiêu cát trong lòng sông mà kể. Ông già chèo mé tây bờ sông Đồng Nai thuộc huyện Tân Uyên nói với tôi:


-Vài năm trở lại đây khúc sông này thường xuyên bị sạt lở. Thời gian qua nạn khai thác rộ lên từ cầu Hoá An cho đến ngã ba Vàm. Trước đây bờ sông cách nhà tôi mười lăm mét, nay còn chừng tám mét, nếu tình trạng khai thác tiếp tục như hiện nay thì sẽ có ngày ngôi nhà của tôi sẽ chìm xuống sông!


Ông nói chuyện hiểm họa trong tương lai với thái độ an nhiên tự tại một cách lạ lùng, cứ như một ngày nào đó nếu ngôi nhà của ông thực sự trôi theo dòng nước thì âu cũng là một quy luật vay trả của tạo hoá, bởi chính ngôi nhà của ông cũng được xây từ những hạt cát của con sông này.

Nghe ông nói rồi nhìn xuống dòng sông tôi chợt nhớ đoạn văn trong cuốn “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse: “ Sông vẫn chảy nhẹ nhàng, thoải mái, tiếng nước reo lên một cách kỳ dị. Con sông đang cười lớn, rõ ràng đang cười lớn”

Có lẽ con sông đang cười thật, nó cười sự dại dột của con người không hiểu hết sức mạnh của nó! Người chèo đò vẫn thản nhiên đưa tôi lướt qua các thuyền nhỏ chở cát đầy ăm ắp. Do nóng mặt bởi các ông lớn ngang nhiên “hốt tiền” của thiên nhiên, nên nhiều cơ sở nhỏ hàng đêm dong thuyền ra sông thi nhau móc cát tạo nên tình trạng khai thác hổn loạn ở đoạn sông này. Con sông Đồng Nai vốn đã gánh chịu hàng triệu tấn chất thải từ các KCN đổ ra nay phải oằn mình chịu đựng sự đào bới tàn bạo của con người.

Theo lời kể của những người dân ở quê hương nhà văn Hoàng Văn Bổn, ngày trước con sông Đồng Nai nước trong xanh, cá tôm nhiều vô kể, mùa nước lên cá tràn lên đồng sinh đẻ, đến mùa nước xuống hàng đàn cá con bay vun vút xuống dòng sông. Những người dân mang rổ ra hứng. Loài cá này không có tên, theo cách di chuyển của nó dân gọi là cá bay. Cá bay kho tiêu hoặc hấp lên cuốn bánh tráng ăn với đậu rồng không có gì ngon bằng. Bây giờ cá bay hiếm dần bởi ngay cá lớn trên sông đôi khi còn chết trắng lăn, huống chi cá con.


Trong những ngày đầu tháng 8 năm 2002, trên một nhánh sông Đồng Nai chảy qua phường Tân Mai , TP Biên Hoà có gần một trăm hộ làm nghề nuôi cá bè, có nguy cơ phải bán nhà trả nợ, vì bỗng dưng cá đang độ lớn bỗng lăn ra chết hàng loạt! Những ngày ấy nước sông Đồng Nai trở nên đỏ và đục ngầu, sau đó vài giờ cá chết trắng bè, mọi người đổ xô vớt cá đi bán nhưng không kịp. Chúng tôi đến khu vực bè cá trong những ngày buồn thảm nhất, nhiều bè cá vẫn chưa dám thả cá trở lại, phần không có vốn, phần sợ nước sông chưa sạch! Bà con ngư dân cho rằng, có thể thời gian qua nắng hạn kéo dài nước thải ứ lại tại các mương rãnh từ nhà máy, khi mưa, luồng nước này đồng loạt thải ra sông hoặc có nhà máy nào đó thải chất nguy hại có nồng độ cao nên cá chết.

Nhìn đàn cá chết tôi chợt nghĩ: “Phải chăng dòng sông Đồng Nai đã gởi lời cảnh báo đến với 14,4 triệu dân vùng hạ lưu đang uống nước lấy từ dòng sông này!” Theo điều tra của Sở KHCN &MT Đồng Nai cùng Viện Thuỷ sản thì nguồn nước sông Đồng Nai đang gánh chịu luồng nước thải khổng lồ từ hai trăm nhà máy và gần bảy ngàn cơ sở lớn nhỏ trong và ngoài KCN. Ngoài ra dòng sông còn chịu hàng ngàn tấn chất thải từ sinh hoạt, thuốc trừ sâu, dầu mỡ do các phương tiện giao thông đường thuỷ và hàng trăm xà lan móc cát đang hoạt động trên sông. Hiện nay tỷ lệ Colifom trong nước tăng ở mức đáng lo ngại, lượng oxy ở tầng mặt giảm ở mức báo động.


Trong một lần cùng đi thăm dòng sông Thị Vải với đại tá Lê Bá Ước con người nặng nợ với nhánh sông chảy qua rừng Sác, nơi tạo nên huyền thoại về Trung đoàn 10 đặc công rừng Sác.Đứng với tôi trên cầu cảng Gò Dầu, đôi mắt ông rực sáng khi nhìn qua rừng Đước bên kia sông, ông cười nói rổn rảng, bước đi thoăn thoắt, sự nhanh nhẹn khác thường khiến chúng tôi ngạc nhiên. Ở trong thành phố trông ông ốm yếu và hom hem lắm. Nhiều hôm ngồi đánh cờ trên Hội Văn nghệ ông phải bỏ ra ngoài để ho. Cơn ho khan dồn dập kéo gập người ông về phía trước trông rất thống khổ. Chạy xe ngoài đường bọn thanh niên vượt mặt chế giểu ông, một hôm nổi hứng ông bảo chúng nó: "Năm nay tao đã hơn bảy mươi tuổi, coi như tao chấp chúng mày năm mươi năm" Nói xong ông tăng gia, đồng hồ bắn từ sáu mươi lên tám mươi rồi một trăm hai mươi, ông đảo những cú lách kinh người khiến bọn trẻ một phen kinh hoàng.

Từ đó chúng cạch, hết dám chọc ông già. Nhưng nếu chúng biết rằng ba mươi năm trước một tay lái thuyền trên sông, một tay kẹp tiểu liên xả vào bọn Mỹ, nếu chúng biết rằng ông già ốm yếu ấy đã từng gây kinh hoàng cho cả sư đoàn Mỹ Nguỵ vùng Nhơn trạch, Long Thành và nếu chúng biết rằng ngày ấy chỉ một cú ra đòn của ông thì thằng lính Mỹ tám chục ký ngã gục như cây chuối bị chặt ngang thân thì chúng hẳn không dám coi thường ông. Bảy Rừng Sác tức đại tá Lê Bá Ước, chính uỷ trung đoàn 10 đặc công thuỷ rừng Sác, một thời lừng lẫy, chính là ông. Đó là một con người huyền thoại. Về hưu ông dành công sức cho việc tìm kiếm đồng đội, lo chỗ thờ phượng cho họ. Sau nhiều năm ông bôn ba, vận động đền thờ Nhơn Trạch dựng lên để ghi công hàng ngàn liệt sĩ đã hy sinh trong rừng Sác, nhiều người mừng ông thanh thản tuổi già. Nào ngờ số ông số khổ, hết chuyện đồng đội lại dính vào chuyện văn chương. Thuở sinh thời nhà văn Nguyễn Đức Thọ sợ nhất khoản ông đại tá lên Hội đọc thơ và nhờ góp ý. Để thoát cái "đòn tra tấn" anh Thọ xúi ông viết văn xuôi. Ai dè ông viết thật, mà viết hồi ký, ông không cần vận công gì cả, cứ đem cái chuyện hồi chiến đấu trong rừng Sác ra mà viết. Những trang viết "thật hơn cả thật" lại được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt, anh em văn nghệ phục lăn sát đất. Rồi cuốn hồi ký" Một thời rừng Sác" của ông được trao giải thưởng Trịnh Hoài Đức lần thứ nhất (năm 2000). Một giải thưởng cấp tỉnh nặng cả về uy tín và tiền bạc. Cũng vì dính tới chuyện văn chương mà ông có mặt trong chuyến thực tế sáng tác của Hội văn nghệ thăm cụm cảng theo lời mời của ông Giám đốc cảng Đồng Nai. Ông chỉ tay ngay trên nền cầu cảng và bảo:


- Hồi trước, Mỹ ngụy cử một đại đội lính ra đóng quân ở đây chặn đường, không cho đồng bào tiếp tế quân ta. Chúng khủng bố cả thàng liền bắt bớ. Ban đêm chúng rọi đèn tuần tra trên sông cả đêm. Vào các buổi trưa tôi cắm lá cờ ba que trên xuồng, giả làm tàu tuần tra của địch, chạy sát bờ để thị sát. Sau vài lần quan sát nắm được quy luật của chúng. Vào các giờ ăn chúng tụ tập lơi lỏng cảnh giác, tôi cho lính mang theo B41 dộng vô đồn mấy quả. Địch chết vô kể, bọn chúng thất đởm bỏ hẳn bến Go Dầu cho quân ta hoạt động.


Ông chỉ qua bên kia sông, khoát tay một vòng và nói tiếp:


- Trước kia anh em đặc công thuỷ rừng Sác sống trong những cánh rừng ấy. Những ngày không được tiếp tế, sống nhờ con tôm con cá trên sông Thị Vải này. Dòng sông nước trong vắt xanh thẳm, cá nhiều vô kể, ở sông này có loài cá nâu, thịt ngọt như cá chim. Sông Thị Vải nước lợ, con tôm to như ngón chân cái, chặt mớ chà bỏ xuống hôm sau kéo lên bắt cả rổ.


Nói xong ông buồn bả nhìn dòng sông, dòng sông đen ngòm, đen đến nỗi nhìn từ xa người ta tưởng đó là con đường nhựa, chứ không phải dòng sông. Mùi hôi thối xông lên nồng nặc, những người nhạy cảm hắt hơi liên tục. Chúng tôi đứng chưa được năm phút người nào cũng có cảm giác cổ bị gắt. Một cán bộ cảng Gò Dầu cho biết, công nhân cảng làm việc phải đeo khẩu trang quanh năm mà người nào cũng bị viêm mũi. Cảng Gò Dầu là nơi có thể tiếp nhận được tàu trên mười vạn tấn nhưng không có nơi ở cho thuỷ thủ. Chúng tôi nêu thắc mắc, ông giám đốc cảng Đồng Nai cười và gượng gạo nói:


Có ai dám ở đây đâu mà xây nhà, dự án có rồi nhưng khi thuỷ thủ nước ngoài đến ai cũng nhăn mặt, lắc đầu…


Thủ phạm làm cho dòng sông đen là những dòng nước thải của một công ty , nằm trên cầu cảng Gò Dầu. Hai ống nước thải có đường kính dài hơn hai mét, ngày đêm tuôn dòng nước đen ngòm ra dòng sông. Công ty này khá bề thế. Đây có lẻ là công ty duy nhất trong nước Việt Nam có hẳn một cái cảng riêng để tàu cập bến nhập nguyên liệu và xuất thành phẩm. Ngoài ra việc xả nước thải ra sông hàng chục năm nay, không biết bao nhiêu bài báo lên tiếng, không biết bao nhiêu lá đơn kêu cứu của nhân dân nhưng lần nào ông môi trường về thanh tra cũng khẳng định như đinh đóng cột là:"Không độc hại, không gây ô nhiễm môi trường" Nghe kể chuyện này một nhà văn trong đoàn nói vui :"Có lẻ cái mũi của mấy ông môi trường khác cái mũi của người thường mình chăng?"


Nhìn dòng sông, ngửi cái mùi kinh khủng của nó, cả đoàn văn nghệ sĩ Đồng Nai ai cũng tỏ ra bức xúc, một nhà thơ thốt lên:"Tôi sẽ làm một bài thơ phản ánh chuyện này" Mọi người cười ồ, hàng trăm bài báo còn chưa thấm béo nói gì là thơ với phú!


Xe khởi hành, một luồng gió đưa mùi hôi xộc vào mũi, đại tá Lê Bá Ước lẩm bẩm:" Hồi ấy hàng tấn bom đạn kẻ thù trút xuống đây dòng sông vẫn xanh thẳm một cách kiêu hãnh vậy mà…" Ông bỏ dỡ câu nói và nhìn đăm đắm về phía dòng sông.


Về vấn đề này tôi đã viết mấy bài báo đăng trên báo Tiền Phong, nhưng nói để mà nói còn nước thải vẫn cứ phải đổ ra sông, chứ biết đổ đi đâu bây giờ? Trước đây tiến sĩ Haroled Jack Day cố vấn dự án AEQM khi về nghiên cứu nước sông Đồng Nai đã đưa ra lời báo động: "Sông Đồng Nai đang trên đà suy thoái nặng. Nếu cứ tiếp tục bị ô nhiễm, dòng sông không thể tự hấp thu lượng thải và sẽ chết dần mòn!" Sông Đồng Nai sẽ chết ư? Một người quen đã cười lớn khi nghe tôi kể lại câu nói ấy, dòng sông làm sao mà chết được cơ chứ, chỉ có con người mới chết, nếu nhà máy đóng cửa, nếu không có việc làm. Không có việc làm thì không có cái ăn, không có cái ăn mới chết chứ!


Giọng cười của anh ta cứ ám ảnh tôi mãi, đi trên sông nhìn những ống khói nhà máy phun mù mịt lên trời tôi lại nghe giọng cười ấy. Cố xua tiếng cười bên tai tôi nhìn gương mặt của người chèo đò in trên dòng sông, gương mặt méo mó bởi sự phản chiếu của dòng nước động vẫn không mất đi vẻ thản nhiên, tôi giật mình bởi tôi thấy gương mặt của ông giống như gương mặt của Vệ Sử trong trí tưởng tượng của tôi, khi tôi đọc “ Câu chuyện dòng sông” năm tôi mười tám tuổi, tức cách đây đã trên hai mươi năm. Người chèo đò ấy đã khuyên Tất Đạt, nhân vật chính của câu chuyện hãy lắng nghe tiếng nói của dòng sông. Không biết bây giờ nơi nào đó suốt chiều dài của con sông Đồng Nai vĩ đại này, có ai lắng nghe tiếng nói của nó không? Dù không ai lắng nghe nó, dù người ta đối xử với nó thế nào đi nữa thì nó vẫn độ lượng bao dung nuôi sống hàng triệu con người trên đường nó đi qua.

Những dòng sông độ lượng - bài 3

Chung Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
bài 3 Nụ cười độ lượng
(VĨNH BIỆT NHÀ VĂN LÃO THÀNH HOÀNG VĂN BỔN)

Giữa ngày giao mùa của miền Đông Nam bộ, trời nóng bức,ngồi ở Hội Văn Nghệ, tình cờ lật trang báo cũ, đọc được bài của nhà phê bình văn học Nguyễn Hòang Sơn viết về nhà văn của xứ “Đồng Nai khoai củ”: “Thử tưởng tượng nếu Đồng Nai không có những tên tuổi Hùynh Văn Nghệ, Lý văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Hòang Văn Bổn thì sẽ ra sao nhỉ Có lẻ cũng chẳng sao…Nhưng cuộc đời chắc sẽ buồn hơn một chút…”(*) Đọc đến đây khẽ rùng mình, những nhà văn mà Nguyễn Hòang Sơn nhắc đến lần lượt ra đi cả rồi, chỉ còn nhà văn Hòang Văn Bổn với trái tim mỏng manh yếu ớt đã nhiều lần ngừng đập rồi lại hồi sinh. Chưa kịp đọc xong bài viết, nhà văn Phạm Thanh Quang xuất hiện vẻ mặt bàng hoàng và thảng thốt báo tin: “Chú Chín Bổn từ trần rồi, sáng nay lúc mười giờ” Sáng nay là ngày 12.5.2005, nhằm ngày 15.4 âm lịch. Trái tim của nhà văn “thiền” đã vĩnh viễn ngừng đập ngay vào ngày Phật đản. Trước đây lúc còn khỏe ông hay dẫn chúng tôi về quê ông ăn đám giỗ, khi đến chỗ ngã ba sông Đồng Nai, ông ngồi lại, đồi mắt buồn vời vợi ông nói:

-Tại ngã ba sông nay đã sinh ra bốn nhà văn (là những ngừơi mà Nguyễn Hòang sơn kể trên). Họ theo ông bà cả rồi, còn mình tôi ngồi đây.

Rồi ông kể cho chúng tôi nghe chuyện ngày xưa của ông. Ông kể nhiều lắm.

Tên thật là Hùynh Văn Bản, sinh ngày 7.5.1930 tại ấp Long Chiến, làng Bình Long, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa ( nay là Vĩnh Cửu, Đồng Nai). Đang học trung học thì cách mạng tháng 8 thành công, 15 tuổi đi kháng chiến. Trải qua nhiều chức vụ, dạy nhiều học trò và viết văn từ năm ấy. Tròn 18 tuổi kết nạp Đảng. Chưa đến 20 mươi tuổi đã làm trưởng ty giáo dục và viết tác phẩm : “ Dưới bóng dừa xiêm” “ mày giết anh tao”. Theo suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trên đầu bom nổ, dưới đất đạn bay, tay cầm súng, vai vác máy quay phim, tay cầm bút. Đất nước thống nhất, chiến tranh biên giới bùng nổ, lại ba lô, nón cối, lên đường ra trận. Giữa lằn ranh của sự sống chết vậy mà vẫn có hàng chục tiểu thuyết ra đời. Nào Bông Hường, Bông cúc. Vỡ đất.

Tướng Lâm Kỳ Đạt. Trên mảnh đất này. Nước mắt giã biệt. Ngôi sao nhớ ai… Những trang viết “ ngổn ngang cực nhọc nhưng đầy tâm huyết”(* ) của ông làm say đắm nhiều thế hệ. Ngoài ra hàng trăm bộ phim thời sự chiến tranh được quay ngay tại chiến trường. Giải thưởng văn học cũng nhiều, giải thưởng điện ảnh trong nước, quốc tế cũng nhiều. Tiến sĩ Hùynh Văn Tới nhận xét về ông: “Gia cảnh của nhà văn không giàu tiền của, nhưng sự giàu có của nhà văn hiếm ai có được: Giải thưởng Cửu Long, giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Bộ Quốc Phòng, các giải Bông sen vàng, bông sen bạc, giải thưởng quốc tế…Ngần ấy đủ thấy gia tài của cuộc đời là vô giá..” Cuộc đời của ông oanh liệt như vậy, sự nghiệp của ông vĩ đại như vậy mà ông khiêm cung nhỏ bé. Là hội viên sáng lập của Hội nhà văn Việt Nam, ông từ bỏ “ chiếu trên” của làng văn về Đồng Nai xây dựng Hội Văn Nghệ. Hàng ngày cọc cạch đạp xe lên Hội ngồi đọc bản thảo của đàn em, giới thiệu họ vào Hội nhà văn rồi khắc khoải chờ đợi kết quả. Ai nói gì cũng cười, ai ba hoa cũng cười, ai lợi dụng cũng cười. Nụ cười nhân hậu độ lượng luôn nở trên gương mặt hiền lành cho đến giây phút cuối đời. Lần đầu tiên xa quê hương năm 1946 ông đã khóc như ông viết trong hồi ký, lần này trước khi xa cuộc đời trần thế này ông đã cười và chúng tôi khóc. Ong cười vì đã sống gấp nhiều lần cuộc đời bình thường mà tạo hóa dành cho con người, chúng tôi khóc vì khi mất ông cuộc đời này không chỉ buồn hơn một chút! (*)

* Trích từ bài “ cái rủi, cái may trong một đời văn” Nguyễn Hòang Sơn trong tập tranh luận văn học . Nxb Văn Học in lại báo Văn nghệ Đồng Nai 12.2002

Số phận hình tam giác, quẻ vị tế và một con người

Chung Trackbacks (0) Bản in góp ý (2)   

Những tháng năm cơ cực của thời điểm đất nước mới giải phóng trôi qua chậm chạp trên vùng đất bán cao nguyên Long Khánh. Những vết thương chiến tranh băm nát bộ mặt tỉnh lỵ nhỏ bé này. Chiều mưa, màu đất đỏ quạch làm cho bầu trời trở nên đen thẫm, không khí đậm đặc ngai ngái mùi bùn đất, mùi lá mục, mùi hoa sầu riêng. Không gian đặc thù của mỗi vùng đất riêng biệt là thứ tài sản không ai cố ý mang theo, nhưng nó luôn quanh quẩn trong ký ức của đời người.


Dựa lưng vào vách tường lổ đổ vết đạn của ngôi nhà thờ lớn, cậu tôi nhìn theo những người đàn bà với đôi quang gánh trĩu nặng màu xám xịt của bầu trời, tất tả, xiêu vẹo dưới cơn mưa, ông trầm ngâm nói: “Mỗi đời người, một số phận và cái số phận ấy là một cái hình nào đó, số phận hình tròn lăn đi nhẹ nhàng êm ả, số phận hình vuông vững chãi quyền lực, số phận hình tam giác tận cùng cơ cực, tận cùng vinh quang. Những người đàn bà ấy có số phận hình tam giác. Trước đây họ là vợ của công chức, sĩ quan chế độ cũ, bây giờ bươn bả kiếm sống” Cậu tôi luôn tìm cách truyền vào tôi những điều huyền bí, duờng như ông phát hiện ra từ cuốn sách có vô số những cái vạch ngắn dài chồng lên nhau, cuốn sách luôn thường trực trên tay ông. Ở tuổi mười ba với cái bụng đói meo, thân thể còm cõi tôi chẳng thể nhập được những điều ông nói, bởi hình ảnh củ mì lùi tro nóng hổi cứ chập chờn dưới cơn mưa.



Hơn hai mươi năm trôi qua, ngồi trong quán café vườn bên dòng sông Đồng Nai, êm đềm chảy qua giữa thành phố công nghiệp phồn tạp ồn ào, tôi xa xăm nhắc lại cảm giác ngày xưa trên nền của dòng nhạc kỷ niệm một thời. Tôi như người lên đồng ,đang nói với chính tôi, mà quên mất người bạn nhỏ con, gương mặt khắc khổ đang ngồi bên cạnh. Tôi dứt lời, tay mân mê cánh hoa Sử Quân Tử vừa rụng tình cờ trên mặt bàn. Không nhìn tôi, anh nói: “ Trong số những người đàn bà tất tả dưới cơn mưa năm xưa, chắc chắn có mẹ tôi” Tôi nhìn anh và nghĩ: “Không chỉ có tôi, mẹ anh mà ngay cả anh cũng có số phận hình tam giác”.



Đó là cách nghĩ của tôi, của một người có cái nhìn về thế giới mình đang sống trong hệ quy chiếu huyền ảo, còn anh- một kỹ sư đã gắn cuộc đời với hai con số 1 và 0 sẽ không nghĩ như tôi, hẳn anh tin rằng anh là người quyết định được tất cả những gì có liên quan đến cuộc đời của mình, chẳng có cái thứ mà cậu tôi gọi là số phận. Tôi cũng không tin lắm chuyện số phận, nhưng không hiểu sao gần mười năm nay, từ khi quen anh đến giờ, mỗi khi nghĩ về Phạm Hoài Nhân, bất chợt cái hình tam giác và câu chuyện của cậu tôi và buổi chiều mưa buồn ngày xưa lại cứ xoay xoay trong đầu tôi.



Anh sinh ra trên đất Long Khánh, Đồng Nai, nơi tôi đã trải qua những tháng ngày khổ ải, vùng đất ấy ám ảnh suốt cả đời tôi với màu xám của những cơn mưa miền Đông mờ mịt đất trời.



Cũng như tôi và những người cùng thế hệ chúng tôi, Nhân đã nếm trải sự đói nghèo cơ cực, của thời kỳ đất nước khó khăn. Cha là công chức điền địa của chế độ cũ, phải đi học tập chính sách mới, mẹ anh, một phụ nữ thuần Việt đã bươn vào cuộc sống với gánh xôi trên vai, để các con được tiếp tục đến trường. Bữa cơm độn bo bo mà anh em Nhân ấm bụng mỗi ngày, được đổi bằng mồ hôi của mẹ giữa trưa nắng gắt và cái rét run cầm cập dưới cơn mưa chiều. Năm ấy, mới học lớp 10, mỗi tối Nhân Phụ mẹ vò xôi làm việc vặt trong nhà, nhưng trong ánh mắt của Người, Nhân ý thức được những việc này không làm Người vui lòng bằng kết quả học tập của đứa con trai nhỏ nhắn, yếu đuối. Thương mẹ, những đêm sau giờ học bài, anh len lén làm thơ, vốn ít nói, nên chỉ có thơ mới giúp anh giải toả tấm lòng của mình. “Kỹ sư Phạm Hoài Nhân đã từng làm thơ và mơ ước thành nhà văn” – Nghe tôi kể chuyện này những người bạn của tôi cười xoà và nhìn tôi với ánh mắt giễu cợt, có thằng còn bảo thẳng với tôi: “ Không phải ai cũng điên điên như ông”.


Đó là sự thật! Nhân học giỏi cả văn lẫn toán, nhưng môn văn là môn học mà anh đạt kết quả bất ngờ nhất. Năm 1977 thi tốt nghiệp PTTH Phạm Hoài Nhân đậu thủ khoa của tỉnh Đồng Nai với điểm 9 môn Văn, đây là điểm số cao duy nhất trong các kỳ thi tốt nghiệp từ năm 1975 đến năm 1977. Ước mơ trở thành nhà văn, nhưng Nhân thi vào khoa cơ khí của Trường Đại học Bách Khoa TPHCM, theo ước muốn của cha mẹ. Văn chương như mối tình đầu tiên chỉ còn trong kỷ niệm, anh bước qua cái cạnh thứ hai của hình tam giác trong đời mình. Con người nhạy cảm và “buồn cả ngày vì một con ong chết” như Phạm Hoài Nhân chẳng thích thú gì với chuyện máy móc, nhưng là người có trách nhiệm với những gì dính tới cuộc đời mình, Nhân đã học với nổ lực cao nhất và đạt thành tích xuất sắc nhất. Có lần ngồi trò chuyện với thầy giáo Đặng Văn Đức, người ngày xưa trực tiếp dạy Nhân ở khoa ô tô của trường Đại học Bách Khoa, tôi hỏi ông có biết Phạm Hoài Nhân không, ông cười ha hả (đây là thói quen kỳ lạ của ông, cái gì cũng cuời một cách thoải mái) và nói rổn rảng: “ Tôi có thể quên ai đó trong số học trò của mình nhưng không thể quên Phạm Hoài Nhân, cái cậu sinh viên nhỏ như viên phấn, có bề ngoài lừ đừ, nhưng bộ óc cực kỳ thông minh.


Chính tôi là người đề xuất giữ Nhân lại trường để giảng dạy sau khi anh ta tốt nghiệp thủ khoa khoá ấy mà sao có thể quên”.Tôi ngạc nhiên: “Vậy sao anh ta lại phải trôi về Đồng Nai?” Ông nhìn tôi: “Anh đã từng đi dạy vào thời kỳ ấy chắc anh biết, ngay cả thầy giáo như tôi còn phải nghỉ dạy, huống chi một người trợ giảng. Cuộc sống như dòng chảy cuốn trôi con người đi mà!”



Thế đấy, Nhân phải từ giả bục giảng để kiếm sống bằng cái chân công chức trong Công ty Vật tư tổng hợp Đồng Nai. Bảy năm trời anh đã sống cuộc sống tưởng chừng bình lặng, an phận. Và cuộc đời sẽ quay những vòng tròn hoàn hảo như đời sống của bao người khác, nhưng (như ý nghĩ của tôi) anh không nằm trong số phận của hình tròn. Năm 1988 tình cờ đọc được tài liệu nói về máy vi tính, anh như gặp phải “cú sét ái tình” Hình ảnh cái máy nhỏ bé như cái túi càn khôn của Thái Thượng Lão Quân cứ chập chờn trong giấc ngũ của anh. Thời ấy, cái máy tính có giá vài ngàn USD, muốn sỡ hữu được “ người tình” cao giá như vậy quả là điều ảo tưởng đối với công chức mỗi tháng lãnh 13kg lương thực và vài chục đồng như anh. Nghe tin Công ty du lịch Đồng Nai mua hai cái máy vi tính và mời thầy ở thành phố về dạy lớp tin học căn bản, Nhân lân la xin được “học ké”. Ngày đầu đến lớp được trực tiếp sờ tay vào cái máy tính thật, Nhân run lên như chàng trai mới lớn được nắm tay người tình. Sự “thông minh vốn sẵn tính trời” của Nhân làm thầy giáo chú ý, từ vị trí của người học dự thính anh được thầy cho làm trợ lý. Tha hồ sử dụng máy tính, là điều trước đây chỉ xảy ra trong giấc mơ của anh. Cái cảm giác hạnh phúc của những ngày ấy anh không bao giờ quên được.



Nhân đâu biết từ duyên cơ đó, số phận chuẩn bị đẩy Nhân qua một cạnh khác của cuộc đời và Nhân cũng không ngờ được chính cái cạnh thứ ba của hình tam giác này đã đưa Nhân đến đỉnh cao của danh vọng, tiền tài. những thứ mà từ ngày xưa và ngay cả bây giờ đang sỡ hữu, anh không hề yêu thích gì nó cả.



Nhưng chẳng có cái “được” nào trong đời mà không có sự trả giá, anh đã phải trả giá đắt cho bước ngoặt của cuộc đời mình. Sau khi khoá học kết thúc, Nhân cặm cụi dịch hàng chục tập tài liệu về máy tính để nghiên cứu rồi thức trắng nhiều đêm để viết ra kế họach thành lập Trung Tâm vi tính Đồng Nai với một chiến lược hình tam giác ( Lại hình tam giác, nhưng đây là ý tưởng của Nhân) Đào tạo con người – Nghiên cứu phần mềm – Sản xuất lắp ráp phần cứng. Soạn thảo xong kế họach, anh chàng nhỏ bé này cọc cạch đạp xe, gõ cửa khắp nơi trong tỉnh, để rồi trong nhễ nhại mồ hôi, anh đổi được những ánh mắt thương hại. Chiến lược đầy “tham vọng” của Nhân thời bấy giờ khiến cho nhiều người thầm nghĩ: “ Chắc thằng cha này mới vừa trốn khỏi bệnh viện tâm thần Biên Hoà!”



“Đai trí nhược ngu, đại dũng nhược khiếp”
. Đâu có phải ai cũng biết lời của Lão Tử nói ra từ mấy ngàn năm trước! Tôi nghĩ thế hơi quá, bởi có người nhận ra anh, anh mới có được cái bậc thang đầu tiên cho cái “lâu đài” của ngày hôm nay. Anh kể cho tôi nghe về người ấy, đó là một phụ nữ có quyền lực và có tầm nhìn xa. Hiện nay chị đang giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền tỉnh Đồng Nai.



Từ chút ánh sáng le lói ở cuối cánh rừng, Nhân đã chấp nhận từ bỏ mảnh đất sắp được cấp, từ bỏ chức vụ sắp được nhận nhờ vào quá trình công tác bảy năm trời ở công ty cũ, để chuyển về công ty mới. Tại đây Nhân được phân công làm việc với cái máy tính như một nhân viên văn phòng. Không nản chí, anh âm thầm thực hiện kế hoạch ấp ủ của mình. Vay mượn bạn bè Nhân mua một cái máy vi tính về để mở lớp dạy tin học. Lớp học được mở dưới danh nghĩa của Đoàn khối kinh tế. Tuyển sinh mãi mà lớp học của anh “kỹ sư ô tô mê vi tính” chỉ có 3 học viên. Họ là những người bạn thân đến học để động viên tinh thần của Nhân! Nhưng cũng chính nhờ họ mà mọi người biết đến Nhân và những lớp học liên tiếp ra đời, càng lúc càng đông, cho đến khi một cơ quan công quyền có nhiệm vụ đào tạo con người đến can thiệp thì lớp học mới ngừng. Lúc này tên tuổi của Phạm Hoài Nhân đã nổi như cồn với những học viên do anh đào tạo và những phần mềm do anh lập trình.



Như hình ảnh chàng trai Đan kô, nhân vật của nhà văn Nga của M.Goocki, Nhân đã “xé toang” lồng ngực của mình để dẫn dắt đoàn người qua cánh rừng âm u của tin học. Không ít người từ anh mà có danh, có tiếng, có tiền bạc, có người ngày nay vẫn coi anh như người thầy đầu tiên, như ân nhân của họ, nhưng cũng không ít người vì chút danh hão mà quay lưng với anh. Nhưng chưa bao giờ tôi nghe Nhân than phiền về ai cả, lẽ đời là thế thôi! Tôi biết Nhân ngộ được điều này. Bởi có lần ngồi uông cà phê với tôi vào buổi chiều bên sông, nhìn mặt trời lặn, anh nói : Khi ta nhìn thẳng được vào mặt trời và thấy mặt trời đẹp là lúc nó sắp phải từ giả chúng ta, nó thanh thản nhường chỗ cho bóng đêm sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ trong một ngày. Đời người cũng vậy!



Trung tâm vi tính Đồng Nai ra đời vào năm 1991 do Phạm Hoài Nhân làm giám đốc trở thành địa chỉ đông khách nhất của Đồng Nai với những phần mềm hữu dụng và máy tính thương hiệu Vinacom. Sự thành công của Trung tâm còn nhiều chuyện nữa, nhưng tôi không nhắc đến, vì khổ nỗi niềm say mê của tôi là con người, đối tượng làm nên cảm xúc của tôi là con người với những hỉ, nộ, ái, ố chứ không phải chuyện kinh doanh hay máy móc nên tôi không tìm hiểu.



Nhắc đến Vinacom người ta nhắc đến Phạm Hoài Nhân, cuộc đời con người được gắn liền với một sản phẩm là một vinh quang như một nhà văn được gắn liền với nhân vật của mình vậy, nhưng đến hôm nay Nhân lại không muốn tên tuổi của mình chỉ gắn với một sản phẩm như vậy. Nhân đã rời Trung tâm vi tính để thành lập công ty mới của riêng mình.



Lơ đãng nhìn dòng sông Đồng Nai trôi lững lờ tôi giật mình nhớ một chuyện : Khi Nhân chuẩn bị bước qua cạnh của tam giác mới, tôi âm thầm về Long Khánh nhờ cậu tôi gieo cho người bạn của tôi một quẻ, mân mê mấy đồng tiền cổ trên mu rùa cậu tôi phán ba chữ: “chưa qua sông”. Đó là quẻ “hoả thuỷ vị tế” quẻ cuối cùng trong kinh Dịch. Chưa qua sông thì mọi việc còn ở phía trước, còn nhiều truân chuyên cho tương lai đó Nhân ạ! Nhưng “chưa qua sông chứ không phải là không qua sông được”. Chợt nghĩ kinh dịch biểu diễn càn khôn bằng hai vạch âm dương, còn nguyên lý của máy vi tính là hệ cơ số 2, không biết có liên quan gì tới nhau không nhỉ?



Quẻ bói của cậu tôi có ứng nghiệm không? Nhưng xét mặt khoa học tôi thấy đúng đối với cuộc đời của Nhân.



Hôm qua, hôm nay và ngày mai, Nhân đã bắt bộ óc của mình làm việc không ngưng nghỉ, không phải vì tiền tài và danh vọng những thứ đã tự kéo đến với anh trong mấy năm gần đây. Anh đã làm hết mình, sống hết mình với “tình yêu và niềm đam mê” của mình.



Chơi với nhau gần mười năm, nhưng vì những tất bật của đời thường, nên tôi đứng từ xa vui, buồn với những thành công và thất bại của Nhân. Cuộc đời anh có quá nhiều chuyện buồn, bởi “nhân tình thế thái”. Nhiều lần Nhân đã đứng bên bờ vực thẳm của cuộc đời, nhưng rồi bằng nghị lực và tấm lòng anh đã bình thản bước qua “sanh tử kiều” với những cuồng phong khốc liệt. Tôi biết vậy, nhưng có những chuyện không nên nói ra làm gì, bởi cuộc sống còn tiếp diễn, mối quan hệ con người vẫn còn tồn tại…



Cũng bởi lý do tế nhị ấy mà dù rất quý tôi, anh đã nhiều lần từ chối để tôi viết về anh. Nhưng tôi nghĩ, nếu cần chọn một “hiệp sĩ tin học” ở Đồng Nai tôi không ngần ngại chọn ngay chàng “Đông ki sốt Phạm Hoài Nhân” và tôi nói ra ý nghĩ của mình rằng: “ Nếu không viết về Nhân thì suốt đời cầm bút của mình tôi sẽ không động đến một nhân vật nào có liên quan đến chuyện tin học ở Đồng Nai” Biết tôi là người cực đoan Nhân miễn cưỡng chấp nhận và tôi đã viết về anh về một người bạn tên Phạm Hoài Nhân Giám đốc của Trung tâm tin học ngày trước và công ty Đắc Nhân bây giờ.



Trảng Dài đêm 1.5.2004


Nguyễn Một

Lang thang xứ Quảng

Chung Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

Bút kí . Nguyễn Một


Một buổi chiều, bỗng dưng nắng rực vàng trùm xuống thành phố Biên Hòa, tôi da diết nhớ những buổi chiều miền Trung. Ở miền đất nghèo, khúc ruột đất nước, trong ký ức tuổi thơ tôi, nắng cũng vàng như thế, vàng đến nao lòng! Bỗng dưng máu giang hồ lại trỗi dậy. Tôi gọi điện cho nhạc sĩ Cao Hồng Sơn, một người anh ham chơi không kém gì tôi. Thế là “Một ba lô, cây đàn trên vai chúng tôi lên đường”. Nghe tin tôi về, anh bạn Trần Bá Dương, một doanh nhân có máu nghệ sĩ rủ rê: “Về chỗ tôi chơi đi. Nhà máy của tôi hơi bị lớn và hơi bị lãng mạn đấy!”.

Cái nơi “hơi bị lãng mạn” ấy là Chu Lai, vùng đất ven biển Núi Thành mênh mông cát trắng, trắng đến nhức cả mắt. Trước đây Chu Lai là trung tâm quân sự lớn nhất miền Trung. Từ khu căn cứ quân sự này, lính Mỹ điều phối quân và vũ khí cho toàn bộ chiến trường miền Trung. Lúc mới đổ quân xuống đây, nhiều lính Mỹ đã lăn ra chết bởi cái nắng cháy người. Thế mà con người ở cái xứ sở nghèo và xơ xác này lại hừng hực sức sống. Đàn ông săn chắc, ăn sóng  nói gió, đàn bà tròn trịa nồng nàn. Sự tròn trịa hấp dẫn mà chỉ có phương ngữ của xứ Quảng mới diễn tả được. Đàn ông bình phẩm về họ bằng cụm từ “Cô nớ con nhà ai mà múp rụp rứa hỉ?”; “Cô bé kia con nhà ai mà ngon cơm rứa hè”. Bọn lính Mỹ hỏi tay thông ngôn về cách diễn tả ấy. Không cách gì dịch được những phương ngữ không có trong từ điển, tay thông ngôn dịch liều là “good rice”- ngon cơm. Thế là mỗi khi thấy đám phụ nữ đi chợ, bọn Mỹ khoái trá gào lên “good rice! good rice!”. Bọn chúng cuồng cả người lên nhưng không làm gì được, vì họ thường đi thành nhóm. Một hôm, có tay lính Mỹ say rượu liều mạng vật cô gái Núi Thành (Chu Lai), hì hục mãi vẫn không làm gì được. Cuối cùng, hắn dùng cái xác to lớn nặng cả tạ đè lên người cô gái theo kiểu đô vật. Con gái trong làng chạy đến cứu, nhưng hắn ở trần, mồ hôi bóng nhẫy cả người, các cô không làm sao kéo nó ra được. Một cô bèn lấy đòn xóc, xỏ qua bụng hắn khiêng lên. Cô gái bị hắn đè vùng dậy được, áo quần rách tả tơi chẳng thèm che đậy, giật cây đòn xóc phang tới tấp. Tay lính Mỹ ôm đầu máu bỏ chạy. 

Bọn lính xằng bậy thế, nhưng mấy tay sĩ quan vốn là dân có học, muốn lấy lòng dân bản xứ theo lối “tâm lý chiến” nên ra lệnh cấm ngặt chuyện cưỡng hiếp. Tuy nhiên đám lính Mỹ vẫn háo hức, khao khát chiêm ngưỡng cái “múp rụp” của đàn bà xứ Quảng. Canh me lúc các cô đi chợ, chúng lấy trực thăng rượt theo, bắn xối xả thành một làn đạn quây tròn họ lại và yêu cầu tên thông ngôn chõ loa bắt họ cởi áo quần để khám xem có giấu vũ khí trong người mang ra cho Việt Cộng không? Sợ trễ buổi chợ, mấy cô có chồng cởi đồ tung lên như muốn ném vào mặt chúng. Ban đầu chúng khoái trá cười hố hố, nhưng tay thông ngôn bảo rằng những người đàn bà ấy đang tỏ thái độ khinh bỉ những người lính viễn chinh, nên chúng quay máy bay bỏ đi...Những chuyện tưởng chừng như bịa đặt, có thật xảy ra thời chiến tranh trên vùng cát trắng này do bà ngoại tôi kể lại và chính bà là người trong cuộc…

Chu Lai bây giờ khác xưa nhiều lắm. Từ khi Khu kinh tế mở hình thành, miền cát cháy đã thực sự hồi sinh. Màu xanh cây cối, màu xanh áo thợ và những nụ cười rạng rỡ đã mang lại cho Chu Lai một gương mặt mới. Trần Bá Dương đưa chúng tôi về công ty, nơi mà anh đã dồn hết tâm huyết của nửa đời người cho nó. Khi tiến hành xây dựng Công ty ô tô Chu Lai - Trường Hải trên vùng cát trắng mênh mang, anh đã cho công nhân mang đất từ nơi khác về để nuôi dưỡng thảm xanh trong khuôn viên, làm hồi sinh vùng đất chết. Tay doanh nhân trẻ này vốn dân gốc Huế, xuất thân nghèo khó. Chuyện đời và vốn văn hóa của anh làm tôi thay đổi suy nghĩ cực đoan truyền thống “trọng nông, khinh thương” của dân Việt, ăn sâu vào đầu óc của tôi. 

Không có ai sống tẻ nhạt trên đời
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử

Câu thơ uyên bác của nhà thơ Nga trên đây vận đúng vào cuộc đời của Trần Bá Dương. Ngày mà Công ty ô tô Trường Hải ra đời là thời điểm đất nước chuyển mình sau mười năm đổi mới. Có những công ty mà cái mốc thời gian chỉ mang tính vật lý, nhưng đối với Dương, những cái mốc thời gian lại mang ý nghĩa thiêng liêng về dấu ấn của lịch sử. Nếu chỉ nhìn sự bề thế của Công ty Chu Lai -Trường Hải hôm nay, khó có thể hiểu được nó được ra đời từ đôi bàn tay chai sạn bởi cày cuốc và lấm lem dầu mỡ. Ngày còn là học sinh trung học, cậu Dương đã quen lắm với việc ruộng vườn. Đi học về, lùa vội chén cơm là vác cuốc ra vườn ngay. Người mẹ nhìn theo con bằng ánh mắt hiền từ âu yếm. Dù cuộc sống khó khăn nhưng bà vẫn cứ tin thằng bé sau này sẽ làm được cái gì đó lớn lao lắm. Linh cảm của người mẹ mách bảo với bà điều ấy. Nhiều lần bà quan sát con trai bà dạy học cho bạn của nó, bà ngạc nhiên sao thằng Dương cùng học lớp với thằng Mọc mà lại có thể dạy lại cho thằng Mọc được nhỉ? Bà còn nhớ khi cha mấy đứa nhỏ còn sống, trong mỗi bữa cơm ông đều truyền dạy cho các con ý thức làm chủ, ông hay nói: “Các con lớn lên nếu làm kỹ sư thì mở xưởng, làm giáo viên thì mở trường nhé!”. Cái tin Trần Bá Dương đậu vào đại học bách khoa TPHCM, một trường đại học danh tiếng, là niềm vui cho xóm đạo nhỏ Quảng Biên. Mọi người đến chia vui, đôi mắt người mẹ sáng ngời niềm hạnh phúc. Năm 1983, giữa lúc đất nước đang ráo riết thực hiện “ thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội” thì Trần Bá Dương ra trường. Nền kinh tế ọp ẹp của thời kỳ bao cấp khiến cuộc sống hết sức khó khăn. Anh xin vào làm ở Nhà máy đại tu ô tô, lương ba cọc ba đồng nhưng anh không quan tâm lắm, niềm vui lớn nhất của anh là được các người thợ lành nghề giao cho công việc sửa chữa. Năm 1985, sau hai năm ra trường, anh thợ sửa xe có bằng đại học được giao hẳn cho một tổ sửa chữa lưu động, tự chạy việc làm. Lúc ấy, anh em gọi đùa tổ sửa chữa lưu động là “gánh hát rong của ông bầu Trần Bá Dương”. Bằng nỗ lực và kiến thức một thời gian ngắn “lưu diễn” khắp nơi trong và ngoài tỉnh bằng cờ lê, mỏ lết, “gánh hát rong” đã thu hút một lượng “khán giả” khá đông, thu nhập tăng, đời sống anh em nâng cao và tất nhiên ông bầu Trần Bá Dương cũng được anh em nhìn bằng ánh mắt kính nể. Thời gian làm công nhân, anh luôn mơ ước có ngày anh sẽ có một công ty cho riêng mình. Khi thời cơ đến, đất nước mở cửa, năm 1997 anh dồn tất cả tài lực của gia đình, bà con nội ngoại để lập công ty. Đó là cái mốc thời gian quan trọng cho Công ty ô tô Trường Hải hôm nay. Những ngày đầu mới thành lập, đứng trước sự non trẻ của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam với những cơ chế không phù hợp, Công ty ô tô Trường Hải như “cây non mới qua mùa bão giông”. Có lúc tưởng chừng như phá sản, nhưng rồi “cây non” này dần dần lấy lại thăng bằng và vươn lên mạnh mẽ.

Nhà máy ô tô Chu Lai - Trường Hải tọa lạc trên diện tích 38 hec ta. Nhà máy  đi vào hoạt động chính thức từ năm 2003. Trang thiết bị được nhập về từ những quốc gia có nền công nghệ sản xuất ô tô tiên tiến nhất thế giới. Tất cả các công đoạn sản xuất các loại xe tải, xe khách đều thực hiện trên dây chuyền hiện đại. Đặc biệt dây chuyền nhúng sơn tĩnh điện và đường thử của nhà máy thuộc loại hiện đại nhất trong ngành sản xuất ô tô hiện nay. Gần 3 năm hoạt động, Công ty ô tô Chu Lai – Trường Hải đã có những bước phát triển nhanh chóng. Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã đến đây và đặt vào Công ty một niềm tin tưởng. Trong chuyến thăm Công ty ngày 11.2.2006, Phó thủ tướng Vũ Khoan đã nhận định: “Chúng ta thật sự tự hào khi người Việt Nam đã cho ra đời loại xe Việt Nam đầu tiên; nhãn hiệu Việt Nam mà chất lượng, mẫu mã không thua kém xe ngoại nhập”. Trên tất cả những lời khen ngợi, điều làm cho Trần Bá Dương tự hào và hạnh phúc là những gương mặt rạng rỡ của hàng ngàn công nhân, họ đã làm việc bằng tất cả sự cuồng nhiệt, say mê của con người xứ Quảng. Dương tâm sự: “Tôi quý những công nhân ở đây chính ở thái độ làm việc của họ, họ làm việc với tinh thần xây dựng quê hương”.

Buổi chiều, Trần Bá Dương đưa chúng tôi ra biển Chu Lai. Nắng vàng rực, biển xanh ngăn ngắt, bãi biển trắng muốt. Chúng tôi đi nhiều chưa thấy bãi biển nào đẹp và hoang sơ như ở đây. Những bụi chà là  gai mọc lúp xúp trên triền núi, những chú dã tràng nhởn nhơ dưới chân người, cứ ngỡ mình đang trở lại thời hồng hoang. Chúng tôi hét lên, tung giày ra và chạy chân trần trên cát để tận hưởng sự khoan khoái hoang dã mà chúng tôi thèm khát trong những tháng ngày tù đọng ở trong thành phố ồn ào chật hẹp. Buổi tối những cô công nhân đến chơi với chúng tôi bằng tất cả sự hồn nhiên trong trẻo. Họ đàn hát, những bài hát ca ngợi quê hương, ca ngợi tình yêu, ca ngợi con người xứ Quảng. Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, Rượu hồng đào chưa nhấm đà say …  


                                                                                          *
                                                                                       *     *


Vào một buổi sáng bầu trời trong vắt, nắng chan chát, chúng tôi chia tay không khí công nghiệp sôi động ở Chu Lai để về Mỹ Sơn tìm chút không gian huyền thoại của ngàn năm trước. Mỹ Sơn là một trong hai Di sản văn hóa thế giới ở Quảng Nam, cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, nơi mà cha mẹ tôi đã vĩnh viễn yên nghỉ, nơi tôi đã trải qua tuổi thơ nhọc nhằn trên cánh đồng sỏi đá nhưng ăm ắp tình người. Mỹ Sơn trong ký ức tôi là một nơi huyền bí với “muôn ma hời sờ soạng dắt nhau đi”. Ngày xưa tôi thường theo cậu vào núi Chúa đốn củi, mỗi lần đi ngang Mỹ Sơn cậu tôi luôn bỏ nón xuống và lầm rầm khấn vái đầy thành kính. Ông rót vào tôi bao câu chuyện huyền thoại xung quanh những ngọn tháp cổ kính giữa đại ngàn trầm mặc. Ông kể: Vào những đêm trăng, các Chiêm nữ hiện về múa hát bên ngẫu tượng Linga, những bầy heo bằng vàng ròng cũng hiện về đủng đỉnh ăn hoa trắng và những trái sim rụng. Không ai dám bắt những con heo vàng ấy, vì nó sẽ mang lại sự xui xẻo cho con người. Có lẽ nhờ vây bọc bởi những huyền thoại nên các ngọn tháp vững chãi tồn tại hàng trăm năm qua bao biến động của lịch sử. Sau mỗi câu chuyện kể, cậu tôi thường kết luận: “ Con người sống không chỉ cần có cơm gạo mà còn phải có văn hóa, lịch sử và huyền thoại. Khi con người bị phá vỡ những không gian tinh thần quanh mình, con người sẽ trở nên tàn bạo với thiên nhiên và đồng loại!”… 

Mỹ Sơn bây giờ không còn u uẩn như xưa, bởi mỗi ngày nó đón hàng ngàn du khách từ khắp nơi trên thế giới. Nhưng có một điều kỳ lạ là giữa sự ồn ào của con người, nó vẫn cứ trầm mặc và huyền bí. Vào trong khu tháp cổ, chúng tôi không ai dám cười đùa, bỗ bã. Những pho tượng Chiêm nữ vẫn lung linh sống động khiến tôi không dám thở mạnh khi đối diện. Nhạc sĩ Cao Hồng Sơn vốn nhạy cảm và yếu bóng vía, lần đầu đến Mỹ Sơn, anh bước rất khẽ bên tôi và thì thầm:“Chưa có nơi nào mang lại cho mình những cảm giác lạ như thế này cả”. Chúng tôi thẫn thờ bên những cổ tháp quên cả thời gian. Mãi đến khi thấy những bầy cò Ngán chấp chới bay về tổ mới hay trời đã về chiều. Ngày nhỏ tôi thường nghe giải thích: Loài cò này chỉ có ở Quảng Nam và cái tên của nó có nghĩa là ngán ngẩm sự đời. Sau mùa giao phối, cò mái tìm hốc cây làm tổ. Cò trống dùng đất bịt kín hốc cây và tha mồi về nuôi cò mái. Qua hết mùa đông lạnh giá con trống rụng trơ trụi cả lông. Mùa xuân ấm áp, cò mái và các con phá tổ chui ra, thấy con trống xơ xác, liền xúm lại cắn và đuổi đi, có khi con trống bị cắn đến chết. Chúng đối xử với nhau tàn bạo như vậy nên gọi là cò Ngán…

Nắng vàng rực dần trùm xuống những ngọn tháp cổ, thoáng sau, bầu trời chuyển qua màu đỏ bầm của máu. Những bụi sim nở hoa tím ngát chuyển mình dưới những cơn gió nhẹ khiến cho không ít du khách rùng mình tưởng tượng các Chiêm Nữ đang lướt đi trên những ngọn chà là um tùm quanh tháp. Cao Hồng Sơn níu cánh tay tôi nói trong hơi thở nhẹ: “Về thôi!”. “Ừ thì về!”. Cái tiếng “về thôi” làm tôi xúc động. Về quê tôi, về nhà những người bà con của tôi, chứ đâu phải quê anh mà anh bảo “về” chứ không phải “đi”. Phải chăng chỉ mới một ngày mà quê hương tôi đã mang lại cho anh cảm giác thân thiện như nơi đây chính là quê hương. Trên đường quay ra nhà chị tôi ở cách tháp 5km, tôi miên man nghĩ cái câu “về thôi” của Cao Hồng Sơn.

Chị Ba của tôi đón hai anh em bằng những tô mì Quảng ngon lành, món đặc sản mang đậm dấu ấn tính cách con người ở đây. Sợi mì to, nước nhưng đậm đà, rau sống làm bằng chuối cây, ăn bằng đũa, ăn ào ào chứ không ăn bằng muỗng nhỏ nhẻ như thức ăn của nền văn hóa cung đình xứ Huế, xứ Bắc. Đưa mì vào miệng, cắn trái ớt xanh đánh rốp, “cay xè, đột ngột, hả hê”. Có lẽ ít nơi nào trên thế giới này có món ăn thể hiện tính cách con người của vùng đất như xứ Quảng Nam. Con người mang đậm dấu ấn của nền “văn hóa khai khẩn”. Ăn to, nói lớn, hồn nhiên, hài hước và quyết liệt.

                                                                                             *
                                                                                           *   *
Tôi có một người quen mang đậm tính cách Quảng được gọi là Người hùng phố cổ. Anh là Nguyễn Sự, một người anh, một người bạn thân thiết của giới văn nghệ sĩ. Mỗi lần điện thoại cho tôi, anh đều kết thúc bằng câu dặn dò rặt giọng Quảng: “Mi về Quảng Nôm nhớ ghé tao chơi nghen!”. Cái giọng đặc cứng nhưng chứa chan tình cảm, vì vậy mà mỗi lần về thăm quê tôi đều tranh thủ ghé thăm anh. Hội An luôn hấp dẫn tôi từ thuở ấu thơ, nhưng không phải bởi những căn nhà cổ nhỏ xíu rêu phong trầm mặc trước thời gian. Phong cảnh dù đẹp như bồng lai thì cũng sẽ vô hồn và nhàm chán nếu không có con người. Hội An hấp dẫn tôi bởi những con người mang đầy cá tính. Và Nguyễn Sự là một trong những con người đó. Khi nhắc Hội An người ta nghĩ ngay đến Nguyễn Sự và ngược lại. Trước khi được phong danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”, Nguyễn Sự đã mang trong mình tố chất của một anh hùng. Trong những lần rong ruổi ở Hội An tôi đã nhặt được những câu chuyện từ những anh chạy xe ôm, những chị hàng rong, những người dân bình thường kể về ông Thị trưởng của mình:

Chuyện thứ nhất:
Mưa tầm tã suốt mấy ngày liền. Nước từ trên nguồn cuồn cuộn đổ về. Sông Hoài không kịp chảy khiến Hội An chìm trong lũ xiết. Nguyễn Sự mình trần dầm mưa trèo lên ca nô hò hét chỉ đạo bà con bảo vệ con người, bảo vệ tài sản, bảo vệ phố cổ. Một người dân bị nước lũ cuốn trôi, trước mặt một thương lái đang điều khiển chiếc xuồng lớn chở hàng hóa. Anh này bỏ mặc người bị nạn để chạy. Nguyễn Sự cho dừng ca nô cứu người xong tức tốc đuổi theo gã lái xuồng kia. Khi đuổi kịp, anh nhảy qua xuồng của hắn xáng cho hắn mấy bạt tai vì cái tội phản bội đạo lý “Thấy chết mà không cứu”. 

Chuyện thứ hai:
Một anh nhà báo trẻ ti toe về lùng sục phố cổ và gặp Nguyễn Sự vòi vĩnh, nếu không sẽ viết bài không hay về Hội An. Nguyễn Sự nhẹ nhàng bảo: “ Cứ viết, đúng sự thật anh cám ơn, còn sai sự thật anh kiện, chứ vòi vĩnh anh, anh ném cổ chú xuống sông Hoài.”. Tay nhà báo hốt hoảng lủi mất.

Chuyện thứ ba:
Dân vùng ven Hội An có thói quen không làm nhà vệ sinh, Nguyễn Sự vận động kinh phí từ nhiều nguồn phát cho mỗi gia đình bốn trăm ngàn để giải quyết chuyện tế nhị. Thời gian sau anh đi qua vùng này thấy vẫn còn cảnh chướng mắt. Tức giận, anh gọi tay chủ tịch xã và chỉ đạo: “Tao cho mi một tuần, tuần sau tao đi ngang mà thấy cái mông mô giơ ra đường là tao đề nghị cách chức mi!”. Biết Nguyễn Sự nói là làm nên chính quyền địa phương thực hiện triệt để. 

Chuyện thứ tư:

Thời kỳ bao cấp, đói nghèo, chiến tranh biên giới khốc liệt. Lúc ấy, anh nào được học sư phạm ra trường đi dạy học là may mắn lắm. Nguyễn Sự lúc ấy là thầy giáo giỏi. Trong cuộc họp hội đồng mọi người tranh cãi chuyện đường sữa. Nguyễn Sự đứng phắt dậy và nói: “Anh em người ta chiến đấu chết sống ngoài biên giới, ở đây bay cãi nhau về chuyện nhỏ mọn nớ, chẳng đáng mặt trượng phu. Tao nghỉ dạy đi nghĩa vụ đây”. Nói xong Nguyễn Sự rời trường và đi thẳng ra ủy ban đăng ký vào quân đội.

Chuyện thứ năm:

Ở ngoài đời ngang ngạnh như vậy, nhưng ở nhà Nguyễn Sự sợ mẹ một phép. Từ lúc đi dạy học, làm cán bộ Đoàn, rồi làm chủ tịch huyện…, mỗi lần có lỗi làm mẹ giận, Nguyễn Sự cúi đầu xin lỗi mẹ hàng giờ liền. Khi mẹ có tuổi không đi được, trong ngày lễ hội “Công nhận di sản văn hóa”, mẹ muốn xuống phố đi bộ xem đèn, Nguyễn Sự cõng mẹ trên lưng đi hết các khu phố. Dân Hội An không cho đó là điều lạ, bởi ai cũng hiểu rõ Nguyễn Sự làm việc đó bằng chữ hiếu thực sự chứ chẳng màu mè gì cả.

 Còn nhiều chuyện nữa chúng tôi nghe kể bên vỉa hè, chẳng biết chuyện nào thật, chuyện nào người dân thêu dệt nên, nhưng tôi chẳng cần xác minh. Như bao Anh hùng khác trên đất nước đầy huyền thoại này, xung quanh họ không ít chuyện do nhân dân yêu mến mà tạo ra những huyền thoại. Dù thế nào đi nữa cũng cho thấy một điều là Nguyễn Sự được người dân Hội An yêu mến vô cùng. Có người bảo với tôi: “Làm lãnh đạo được dân yêu mến là quý nhất, hoặc dân sợ cũng tốt, chứ người nào lên, người nào xuống dân không quan tâm thì buồn lắm!”…

                                                                                           *
                                                                                         *   *
Chúng tôi kết thúc chuyến du hành Chu Lai – Mỹ Sơn – Hội An của Quảng Nam bằng một buổi chiều nắng vàng rực đổ xuống mái nhà cổ kính bên sông Hoài. Nhạc Sĩ Cao Hồng Sơn cao hứng hát ca khúc anh vừa sáng tác: Bạn đến rồi đi như mây trắng, ta ngồi độc ẩm vịn bài ca…                         
                                                                  
                                                                Tháng 3-2007
                                                                    
  N.M

Đăng trên VNQĐ
 
http://www.vannghequandoi.com.vn/Home/Newsdetail.aspx?news=0&catid=9&id=27

Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.