Ngổn ngang đồng đất Đồng Nai - Nhân đọc truyện ngắn của Nguyễn Một

Viết về Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (1)   

Đọc tập truyện ngắ: NHƯ LÀ CỔ TÍCH của Nguyễn Một -nxb Hội nhà văn 2005.


Nguyễn Đức Thiện

Cho đến nay Nguyễn Một vẫn sống ở Đồng Nai, có lẽ vì thế mà những tác phẩm của anh mang rất rõ dấu ấn vùng đất mà anh đang sống. Cuộc sống của người Đồng Nai hiện dần, hiện dần trong từng trang sách của Nguyễn Một. Một Đồng Nai xưa với bao nhiêu vất vả, gian nan. Đồng Nai một thời đánh giặc và một Đồng Nai hôm nay đang xây dựng với trăm mối lo toan.

Ngay từ những trang đầu tập sách với truyện ngắn LỬA BÊN SÔNG, ta đã gặp ngay một dòng họ lưu lạc từ xứ nghèo Miền Trung vào Đồng Nai tìm đất sống. Đương nhiên, bất cứ một cuộc di chuyển nào cũng có ly do. Nguyễn Một đã tìm cho dòng họ Nguyễn một lý do thực chính đáng: bị áp bức ở đất quê mà phải trốn tránh. Trong cuộc phiên lưu vào phía Nam tìm đất sống ấy, ông tổ họ Nguyễn ở Đồng Nai đã dừng lại bên một con sông. Con sông ấy đã vun bồi nên mảnh đất màu mỡ và chuộng người. Nổi chìm một kiếp người mà nên được một dòng họ. Nhưng chính dòng họ ấy cũng phải nổi chìm mới có được cuộc sống hôm nay.

LỬA BÊN SÔNG thực sự là khúc ca bi tráng về một dòng họ đi mở đất trên đất Đồng Nai.  Nhân vật trong các truyện ngắn của Nguyễn Một có những người của thuở xa xưa và người của hôm nay, người của cuộc kháng chiến thần thánh và người của lao động dựng xây, không thiếu vắng những nhân vật dưới đáy xã hội và những kẻ ngang tàng, bậm trợn.

Bao thân phận, bao nhiêu kiếp người được dồn nén trong một tập truyện ngắn của Nguyễn Một. Phong phú về thực tế mà Nguyễn Một đã đưa được nhiều nhân vật có những số phận khá đặc biệt vào những trang sách của mình. Có một điều đáng nói là tất cả các nhân vật trong truyện của Nguyễn Một đều có một bề dày số phận. Một anh công nhân ở trong khu công nghiệp phải có một chuỗi ngày gian nan vất vả ở quê nhà. Với quyết tâm tìm kiếm sự dư giả nhưng cũng sẵn sàng bày tỏ tinh thần thượng võ bênh vực người yếu. Để rồi mất việc và phải bắt đầu từ đầu cho cuộc tìm kiếm cách thoát nghèo. Nghề truyền thống đã cứu giúp anh. Chỉ với những cây tre quen thuộc mà anh tạo ra những sản phẩm có thể xuất khẩu và người tiếp sức cho anh không ai khác, chính là người anh đã thách đấu để bảo vệ bạn mình.

Một thương gia nước ngoài. Trong một truyện ngắn thôi mà chất chứa rất nhiều sự kiện, khiến cho chất liệu trong truyện bề bộn hẳn lên, trong đó không thiếu một tình yêu hé mở  (TRƯỚC MẶT LÀ DÒNG SÔNG). Một người lính đã có chuỗi ngày tham gia đánh giặc, gặp người con gái mình yêu sau đó, yêu thương mà nên vợ nên chồng sau phút yêu đương trong khói lửa bom đạn, nhưng đánh đổi là phải giã từ cuộc chiến đấu. Nếu chỉ dừng chuyện ở đó thôi thì chuyện không thành truyện. Sau đó là cuộc Chiến đấu gần như đơn độc để bảo vệ mảnh đất quê hương, bảo vệ cả vùng căn cứ. Anh hy sinh, Nguyễn Một vẫn chưa chịu dừng, anh còn đi tiếp để tìm cho được thế hệ tiếp nối của con người dũng cảm kia ( TRUNG QUÂN) .  

Một nhân vật khác, đó là Tám Giái và Chín Cu trong CHUYỆN NGƯỜI, CHUYỆN MA. Nhân vật rất phụ trong truyện là một người đàn bà bị bệnh cùi có đứa con xinh đẹp. Tám Giái và Chín Cu xuất hiện gần như trong hết câu chuyện lại tạo ra bao nhiêu chuyện ly kỳ xung quanh người đàn bà kia, cho đến khi bà chết được hai anh em hoả thiêu, người ta lại có cảm giác bà mới là nhân vật trung tâm của câu chuyện. Họ phải phớt lờ bao nhiêu chuyện đơm đặt của những người xung quanh. Hai con người bí ẩn, có những tình cảm bí ẩn nhưng thương nhau rất mực chỉ để bảo vệ một người đàn bà xinh đẹp nhưng bị căn bệnh vào lúc đó người ta ghẻ lạnh. Khi người đàn bà chết, họ mới bỏ xứ mà đi. Nguyễn Một thêm một lần nữa theo chân họ để lần tim ra nơi họ sống sau này.

Những thân phận người trong truyện của Nguyễn Một vì thế mà dày lên khiến người đọc cứ phải theo hoài cho đến hết.  Trở lại với truyện ngắn đã nhắc ở đầu bài viết này: LỬA BÊN SÔNG. Người đàn ông trong dòng họ Nguyễn đến đất Đồng Nai sinh sống có một phần đời riêng. Hậu duệ của ông ta hôm nay cũng có thân phận thật trớ trêu. Ông ta đã phải trải mất thăng trầm mới gìn giữ được mảnh đất của tổ tiên để lại. Một dòng đời mấy thế hệ trong một truyện ngắn khiến ta có cảm giác quá tải. Tuy nhiên, do cách viết khá hoạt nên vẫn có sự tách bạch rõ ràng và thể hiện rất rõ dụng tâm của tác giả: con người cần có lửa để sống, nhưng chính lửa trong mỗi con người mới thực sự cần cho sự tồn tại trước mắt và tồn vinh lâu dài.

Nhân vật trong truyện ngắn PHO TƯỢNG TÌNH YÊU  cũng có sự đậm đặc thường có trong truyện ngắn của Nguyễn Một. Họ có tình yêu khi còn tuổi trẻ. Tình yêu dang dở mỗi người có con đường riêng. Người đàn bà bị ép duyên. Người đàn ông phải lấy người đàn bà khác. Nguyễn Một đã cho những trang viết của mình theo suốt cuộc đời của họ. Cho đến già, cho đến chết, để tìm cho đến cái kết có hậu của truyện ngắn. Hai người đàn bà trao lại kỷ vật cho nhau, nhưng xét cho cùng cũng chỉ là một kỷ vật dành cho một người. Đó là người đàn bà mà người đàn ông yêu nhất, yêu hết cuộc đời mình. Còn người đàn bà kia thì hy sinh cả một đời mình cho người mình yêu nhất, mặc dù biết rõ trái tim người đàn ông luôn dành cho người đàn bà khác.            

Tất cả những nhân vật mà Nguyễn Một xây dựng trong tập truyện ngắn NHƯ LÀ CỔ TÍCH rất gần với cuộc sống thực tế của người Đồng Nai. Có những trang viết mang tính sử thi, có những trang viết mang tính thời sự, không thiếu những trang viết đằm thắm tình người. Nguyễn Một tỏ ra có một sự ưu ái khá đặc biệt với những thân phận trắc trở. Một người đàn bà cùi sống chui nhủi như một bóng ma. Một người đàn ông cũng mắc bệnh cùi con gái phải lao vào lửa cứu cha vì làng bắt phải chết theo tục lệ và cô phải gánh chịu nỗi đau ê chề của cha và lưu lạc sống ở nơi khác.

Một anh ăn mày không tên. Một người thiếu phụ bị chồng bỏ rơi. Một anh công nhân thất nghiệp. Đến cả một tội phạm hình sự trong truyện ngắn: KẺ VÔ HỌC, Nguyễn Một vẫn viết ra bằng sự cảm thông nhất định. Anh ta giết người ư? Có những chuyện trớ trêu khiến anh phạm tội, khiến anh chán ghét con người. Nhưng rồi anh ta lại được chính con người chỉ ra được sự cần thiết phải sống chung trong cộng đồng. Rõ ràng trong khi viết Nguyễn Một đã bỏ khá nhiều tâm trí để xây dựng cho trọn vẹn những nhân vật của mình. Anh không muốn dừng lại khi chưa cho bạn đọc thấy rõ chân dung những con người mà mình tạo dựng lên trong tác phẩm. Nhân vật của Nguyễn Một có lúc rất thực, nhưng cũng có lúc mơ mơ, ảo ảo.

Cùng với những con người có những số phận dày dặn, Nguyễn Một còn dành khá nhiều tâm huyết khi viết về đất Đồng Nai. Con sông Đồng Nai, vùng đất đỏ bazan với những rừng cà phê… Phong cảnh Đồng Nai trong những trang viết của Nguyễn Một khá sinh động, nhờ đó mà tác phẩm của anh không thể trộn lẫn được với những vùng đất khác.

Cùng với cảnh vật đồng Nai và những nhân vật trong tập truyện ngắn NHƯ LÀ CỔ TÍCH , Nguyễn Một đã làm được một điều thực ý nghĩa: tạo ra vóc dáng riêng cho một vùng quê đồng thời cũng tạo được vóc dáng riêng của một người viết. Việc này không dễ mấy ai làm được. Từ vóc dáng riêng ấy mà góp phần vào nền văn hoá chung một bản sắc riêng. Người đọc cũng nao lòng mỗi khi Nguyễn Một khắc hoạ về miền Trung, nơi đầy nằng, gió và cái nghèo…            

Vẫn có những điều cần nhắc đến khi đọc Nguyễn Một. Người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng thường kể những câu chuyện có hậu. Chuyện có hậu làm hài lòng những bạn đọc thông thường. Có khá nhiều truyện trong tập NHƯ LÀ CỔ TÍCH của Nguyễn Một đều có một kết thúc có hậu. Một hoạ sĩ muốn có tác phẩm lớn về con người lại sống bên cạnh một cây bằng lăng ráng tồn tại sau một trận bom ngạt và một gã hành khất không tên thì người đọc có thể đoán nhất định anh ta sẽ có một tác phẩm chính là gã ăn mày và cây bằng lăng kia.

Có những cái kết thúc có hậu khác như: mười sáu tuổi hứa sẽ tìm cho được cô con gái con người đàn bà cùi, thì cuối truyện là phải tìm được. Ông già trong dòng họ Nguyễn cuối cùng cũng đòi lại được đất đai và giàu có nhờ trồng trọt… Khi đọc riêng lẻ từng truyện bạn đọc có thể không để ý, nhưng khi tập hợp lại thì nó trở thành cái nếp cho người đọc có thể đoán nhận ngay đầu truyện như thế, kết thúc sẽ ra sao.

Nói một cách đơn giản hơn: truyện của Nguyễn Một được chuẩn bị khá kỹ về cốt truyện do đó thường để lộ ra sự sắp đặt của tác giả. Người viết dấu được sự sắp đặt truyện của mình càng kỹ, càng tốt, càng hấp dẫn người đọc hơn. Chúng ta vẫn chấp nhận những truyện ngắn kết thúc có hậu, song khi đưa vào một tập truyện nên tránh có nhiều truyện có những kết thúc như thế để bớt đi sự đơn điệu trong một tác giả.            

Thêm một lần nữa khẳng định tập truyện ngắn NHƯ LÀ CỔ TÍCH, với 16 truyện ngắn, trong 250 trang in, Nguyễn Một đã mở ra cho chúng ta thấy một Đồng Nai bề bộn, ngổn ngang. Bề bộn, ngổn ngang người với nhiều tính cách, nhiều số phận khác nhau. Bề bộn, ngổn ngang đất, bề bộn ngổn ngang sông nước với bề bộn ngổn ngang công việc. Công việc của quá khứ xa xăm, của hiện tại và của tương lai. Điều này thể hiện vốn sống trong Nguyễn Một khá dồi dào, đó là điều kiện để Nguyễn Một sẽ còn có nhiều trang viết mới, những trang viết sung sức cho sau này.  

Tây Ninh ngày 5-11-2005.

"Tuyển tập văn xuôi Đồng Nai 30 năm": Đôi điều suy nghĩ

Viết về Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (1)   

Tuyển tập văn xuôi Đồng Nai 30 năm (1975-2005) gồm: truyện ngắn, truyện ký và ghi chép của trên 20 tác giả trong tỉnh do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành.

 

Là tuyển tập của một chặng đường 30 năm, do đó người đọc không khỏi có những cảm xúc háo hức muốn khám phá xen lẫn cách nhìn thận trọng để cố gắng đánh giá đúng những gì các tác giả đã thể hiện trong tuyển tập. 

 Ba mươi năm, văn xuôi đồng hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh. Chỉ nói riêng về đề tài trong tuyển tập cũng cho thấy một sự phong phú đáng ghi nhận, nhưng có lẽ ấn tượng đối với người đọc trước nhất vẫn là mảng truyền thống.

 Ba mươi năm đất nước hòa bình, xây dựng cuộc sống mới mà cứ ngỡ như mới hôm nào, gương mặt những người đã hy sinh còn lấp lánh ẩn hiện đâu đây. Phải chăng vì cuộc chiến dai dẳng, khốc liệt quá, sự hy sinh xương máu của nhân dân thật khó đo đếm mà bao thế hệ cầm bút ở Đồng Nai chưa dứt ra được, vẫn còn "nặng nợ" với mảng đề tài này. 

Bằng một văn phong hào sảng rất Nam bộ, chi tiết chọn lọc, quá khứ lung linh xen cài cùng hiện tại, truyện ngắn "Phong thần" của nhà văn Hoàng Văn Bổn đã đưa ta đối thoại với những bà mẹ vô danh thà chết chứ không khai hầm du kích.

Những người "dân ấp, dân lân" quen "việc cuốc, việc cày", đêm đêm soi ếch nhưng sẵn sàng đọ súng với quân xâm lược đến viên đạn cuối cùng... Danh sách của họ, dân làng sẽ suy tôn như một nghi lễ phong thần. Cũng bởi sự xuất sắc của truyện ngắn này mà nữ nhà văn Mỹ - Rosemary Kacoroski đã xin phép tác giả dịch sang tiếng Anh.

 

Nhà văn Lý Văn Sâm với chùm truyện ngắn và ký: "Văn nghệ Giải phóng số đầu tiên"; "Chuông rung trên tháp đổ"; "Người thổi sáo ở Bến Xuân", nói lên những kỷ niệm, những đóng góp của ông trên mặt trận văn hóa - nghệ thuật cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

 

Nặng lòng với mảng truyền thống, ta còn gặp "Cùng nghĩ về đồng đội" của Phạm Thanh Quang, Nguyễn Đức Thọ với "Ốc mượn hồn" một lần nữa khẳng định phẩm chất người lính qua chiến đấu vì nhân dân, đất nước chẳng những được tô đậm, mà trong thời bình trước lẽ đời thiệt hơn, phải trái, ứng xử của họ cũng tỏ ra rất nhân văn, hào hiệp hơn người ta tưởng.

Đại tá Lê Bá Ước luôn "sống" với những kỷ niệm của "Một thời rừng Sác". Ở chiến trường, chỉ đơn giản được nghĩ về những lần gặp Bác Hồ, nghe giọng nói của Người qua làn sóng cũng đủ là một động lực để người lính tiến lên phía trước.

Ta còn gặp một Nguyễn Duy Thinh luôn trung thành với cách viết nửa truyện, nửa ký, song lại khắc họa được một lớp người vượt qua bao hiểm nguy, sinh tử, đi "Soi đường ở Bắc chiến khu Đ", hợp điểm với đoàn từ Bắc vào nối thông đường Trường Sơn huyền thoại về Nam...

 

Ba mươi năm xây dựng và phát triển, Đồng Nai còn là nơi hội tụ của bao thế hệ cầm bút đến từ mọi miền đất nước. Họ xuất hiện, trưởng thành và định hình nhiều gương mặt làm phong phú thêm chất lượng văn xuôi Đồng Nai. Đó là Minh Chung sắc sảo và hợp lý trong xây dựng tính cách nhân vật với "Tiếng súng"; một Trần Thúc Hà vị tha nhân ái trong "Mẹ"... những tác giả trẻ như: Nguyễn Một, Thu Trân, Trần Thu Hằng... phát huy thế mạnh về tâm lý, lứa tuổi có cái nhìn đồng cảm với những số phận đương đại.

Nguyễn Một phát hiện ra "Miền Đông" là nơi cưu mang những mảnh đời có hoàn cảnh... Thu Trân êm ái, mượt mà đầy nữ tính, đi vào những góc khuất tâm hồn những thiếu phụ đầy trắc trở và khát khao trong "Lá đa la đà".

Trần Thu Hằng dũng cảm chọn "Gia đình" những kẻ bụi đời trong "Cầu ván ghép" để gửi những thông điệp về sự cứu rỗi. Hoàng Ngọc Điệp chắt chiu kiến văn và vốn sống để bật ra "Mưa xuân"... và những tác giả như: Bùi Quang Tú, Hoàng Kim Chung, Hải Ba, Đào Sĩ Quang, Tân Triều... Tác phẩm của họ đều nối quá khứ với hiện tại, thể hiện rõ ý thức người cầm bút trước cuộc sống.

 

Với "Ba mươi năm văn xuôi Đồng Nai", bên cạnh niềm vui, trân trọng vì đây là công trình đánh dấu sự trưởng thành về văn xuôi tỉnh nhà, dường như còn điều gì đó khiến ta băn khoăn. Phải chăng là còn ít tác phẩm thành công gây tiếng vang vượt ra ngoài tỉnh. Chưa kể, có những tác phẩm chỉ vừa lòng với tính nghiệp dư...

 Trước thềm Đại hội lần thứ IV của Hội VH-NT tỉnh nhà, đọc và suy ngẫm "Tuyển tập văn xuôi Đồng Nai 30 năm", đối với lãnh đạo Hội cũng như những người cầm bút chắc có nhiều bổ ích cho công việc xây dựng đội ngũ và sáng tác phục vụ sự nghiệp đổi mới.
Lê Đăng Kháng
 

"Tôi" và cổ tích

Viết về Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (2)   

(Nhân đọc tập truyện “Như là cổ tích” của Nguyễn Một, NXB Hội Nhà văn) (22:49 24/06/2005)

“Tôi” và cổ tích

Tựa đề tập truyện thật thú vị. “Như là cổ tích” chỉ là phần lộ ra của một mệnh đề bí mật. Đó là một giấc mơ, niềm khát khao hay là cả cuộc đời? Giữa 16 truyện ngắn trong tập (được tuyển chọn từ khá nhiều truyện ngắn viết trong nhiều năm của Nguyễn Một), người đọc bắt gặp một cái Tôi...

 

Tôi và...

 

Đó là một cái Tôi bằng nghĩa đen, làm người dẫn chuyện (trong truyện Lửa bên sông), là nhân vật phụ (Thị trấn thiếu dòng sông), hay một thân phận con người tủi nhục đi tìm hạnh phúc (Miền Đông)... Nhân vật Tôi xuất hiện khi xa, khi gần trong nhiều truyện ngắn, đủ để làm nên một phong cách viết văn hiện thực và hiện đại. Bởi sự hóa thân của những nhân vật Tôi trong truyện ngắn của Nguyễn Một thực ra chỉ là một với những Anh, Gã, Hắn - những con người “không tên” nhưng nét đời rất thật.

 

Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Một là những con người từng trải. Đói rét, chiến tranh, mồ côi, thất tình... đủ cả. Xét về nội dung, thì nhiều truyện ngắn của anh khá hấp dẫn, lâm ly, có thể lấy nước mắt của người đọc. Những con người ấy bị cuốn theo dòng chảy của cuộc đời, trở nên lầm lì, chai sạn, có khi độc ác.

Nhưng sâu xa bên trong từng số phận, vẫn là sự nhận biết rõ ràng cái Thiện - cái Ác, tiếc nuối, ân hận, mơ ước, nhớ nhung. Những cái tên phiếm chỉ là những vỏ bọc cho những thân phận ngang trái trước xã hội loài người. Truyện “Kẻ vô học” mô tả khá sắc nét bản chất cái Tôi ấy, khi nhà văn kể về cuộc đời của một kẻ trượt dài trong tội ác, hận đời, giết người. Nhưng y vẫn nâng niu mối tình và đứa con gái tội nghiệp, kết quả của mối tình ấy, để chấp nhận chính cuộc đời của y.

 

Nhưng đối lập hoàn toàn với  những “Kẻ vô học”, “Đồ phàm phu” còn có những cuộc đời, những tâm hồn thánh thiện đến lãng mạn, khó tin. Đọc “Hương bưởi”, “Tiếng chim sẻ trong thánh đường”, “Như là cổ tích”, người đọc sẽ gặp những “thiên sứ” hiện diện giữa đời sống trần tục tuy ngắn ngủi, nhưng hồn nhiên và đáng yêu. Họ có vẻ xa rời thực tế, thậm chí cách ly hẳn với đời sống đầy những trái ngang, ô trọc. Đây lại là những nét đời đang chạm đến những câu chuyện cổ tích mới lạ, tưởng không thể có thật.

 

Truyện ngắn của Nguyễn Một cũng hay dùng đến cái chết như là một “thi pháp ngược”. “Tiếng chim sẻ trong thánh đường”, “Đồi mặt trăng”, “Hương bưởi” với những Hương, Múi, Hoàng dường như đã chết, nhưng cái chết của họ lại kéo ngược lại thời gian, gợi cho người đọc nỗi khắc khoải về tình yêu, về cuộc sống. Sự tồn tại của những con người ấy chuyển vào một nhân vật Tôi nào đấy, đúng hơn, đó chính là sự lan truyền của những mối dây tình cảm và ước vọng.

 

Chung quy lại, cái Tôi ấy đang tìm kiếm hay trốn chạy thực tại giữa một miền cổ tích nửa thực nửa hư?

 

... Cổ tích của dòng sông

 

Có lẽ đó là một truyện ngắn chưa viết của Nguyễn Một. Hình ảnh dòng sông như một cái bóng theo mãi trong những truyện ngắn của anh, trở thành một sự ám ảnh không thể nào quên. Có biết bao nhiêu dòng sông trên đất nước này? Bàn chân dầu dãi phong trần của con người đã vượt qua bao nhiêu bến bờ những dòng sông, và giờ đây đang ngụp lặn, vùng vẫy trên những con sông của miền Đông nắng lắm mưa nhiều.

Nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét: “Có thể nắng gió và phong cảnh nên thơ của miền Đông cũng tạo cho người ta nhiều tưởng tượng và đôi khi cái hư cái thực hòa trộn trong cuộc sống chung quanh”. Đối với Nguyễn Một, hình như những dòng sông chất chứa nhiều đau thương bất hạnh hơn là hạnh phúc. “Sông xưa” với những tiếng rì rầm không nguôi đã gợi nhớ về câu chuyện thần thoại bao đời, về tình yêu ngắn ngủi và cái chết của cha mẹ, những xung khắc của dòng họ.

Dòng sông như đã hóa giải quá khứ bi thảm thành ân tình sâu nặng, thay cho bao kiếp người. Dòng sông cũng là một ẩn dụ khi “Thị trấn thiếu dòng sông” lại xuất hiện một kẻ “không tên”, và khi dòng sông không có thực ấy được vẽ vào một bức tranh, được chảy vào tâm hồn của một kẻ gây tội ác chiến tranh, nó đã trở thành một sự tự nhìn lại chính mình. “Trước mặt là dòng sông”, “Miệt mài sông trôi” cũng là những truyện ngắn mang sức nặng của quá khứ và hiện tại, mở ra một hướng nhìn, một con đường mới mẻ.

 

Con người và dòng sông, lúc như hòa nhập làm một, lúc lại tách rời nhau như để đong đếm lại cuộc đời mình. Và không chỉ có dòng sông, bên cạnh đó, Nguyễn Một nhắc nhiều đến tuổi thơ, đến quê hương miền Trung... Chỉ có điều, mỗi một kỷ niệm đều có bóng dáng của dòng sông, mặc dù hình ảnh con sông không rõ ràng, cụ thể. Mà làm sao có thể tìm thấy tính cụ thể giữa những lớp đời sống, tình cảm, tâm tình? Vì vậy, người đọc có thể cảm nhận dòng sông như là một khái niệm được đưa vào phạm trù “Cổ tích” của nhà văn.

Trần Thu Hằng

(Hội VHNT Đồng Nai - bài đăng trên báo Đồng Nai)

  

Tấm lòng người cha và người con gái 20 năm bị nhốt

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (1)   

Suốt 20 năm dòng, vợ chồng ông Trương Chấn ăn không ngon, ngủ không yên vì cô con gái đầu Trương Thị Mỹ Trâm. Trâm bị thần kinh phải nhốt trong cũi đã 20 năm nay

Ông Trương Chấn đang chăm sóc con gái
Nhìn người cha chăm bón từng thìa cơm, lặng lẽ giặt quần áo cho đứa con gái tội nghiệp của mình, bà Trần Thị Hồng Vân, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom (Đồng Nai) nghẹn ngào nói: “Lẽ ra con phải hầu hạ cho cha, đằng này cha lại hầu hạ cho con, gia cảnh vậy mà khi rảnh ông chạy ngược, chạy xuôi để cùng với Hội lo cho người nghèo nữa".

Bà Trần Thị Hồng Vân còn cho biết: Hai mươi năm nay, với cương vị là PCT Hội chữ thập đỏ xã, ông Trương Chấn luôn hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của mình, ông có nhiều giấy khen từ Trung ương đến địa phương, nhưng bản thân chưa bao giờ dám nhận về mình bất cứ món quà từ thiện nào cả, dù hoàn cảnh của ông thuộc diện xóa đói giảm nghèo”.

Bằng giọng miền Trung khá nặng, ông Trương Chấn chậm rãi kể lại câu chuyện buồn của gia đình mình. Rời quê hương Quảng Trị hun hút gió lào, cát trắng ông Trương Chấn dắt díu vợ con vào miền Nam lập nghiệp.

Bao nhiêu năm khai sơn phá thạch, ông có được hơn 1ha đất trồng hoa màu ở huyện Tánh Linh, Bình Thuận. Tuy chẳng giàu có gì nhưng cũng thoát cảnh “bữa đói, bữa no” như hồi ở quê nhà.

Những tưởng cuộc đời sẽ êm ả trôi đi như bao nhiêu người nông dân khác, nhưng rồi bi kịch giáng xuống gia đình ông. Đáng buồn ở chỗ, nguyên nhân bi kịch lại xuất phát từ Trương Thị Mỹ Trâm - cô con gái đầu sinh năm 1962 xinh đẹp.

Là chị cả của 4 đứa em, Trâm chấp nhận nghỉ học sớm để phụ cha mẹ lo cho các em được đến trường. Năm 18 tuổi, tuy lam lũ nhưng Trâm đẹp, vẻ đẹp chân quê mặn mà. Nhiều chàng trai đeo đuổi, ngày ấy sân nhà cô  đêm nào cũng ngập tràn tiếng đàn, tiếng hát của họ.

Trong số đó Trâm để ý và chấp nhận tình yêu của Đ., một người làm công ở cạnh nhà cô. Tình yêu ngày càng mặn nồng, họ quyết định đi đến hôn nhân. Cha mẹ Trâm cũng vui mừng vì con gái có nơi có chỗ, ông bà bỏ ra số tiền ít ỏi chắt chiu từ lát khoai, hạt bắp để lo đám hỏi cho đôi trẻ.

Trong lúc Trâm rộn ràng chuẩn bị cho ngày cưới thì Đ biến mất. Trâm bàng hoàng khóc sưng cả mắt, hết khóc lại cười, thời gian sau nghe tin người yêu đã cưới vợ ở quê, Trâm bỏ nhà đi, một tuần sau cô quay về với đôi mắt khác thường, quần áo rách bươm.

Cô không còn ý thức được cuộc sống, sinh hoạt làm việc vô thức, nói chuyện một mình cả đêm. Thương con gái, ông bà quyết định đưa con đi chạy chữa, của cải trong nhà lần lượt đội nón ra đi cùng với căn bệnh của con.

Khi miếng rẫy cuối cùng sang tay cho người khác ông bà về Đồng Nai, vừa kiếm sống, vừa chữa bệnh cho con. Hàng ngày bà làm bánh nậm, bánh giò mang đi bán mua gạo về nuôi ba đứa nhỏ, còn ông ở lì trên bệnh viện tâm thần vừa làm thuê vừa nuôi con gái.

Sau nhiều năm chạy chữa mà bệnh con càng ngày càng nặng, năm 1985 ông mang con về nhà. Chỉ ở yên được vài bữa Trâm lại bỏ nhà đi lang thang, ông lẽo đẽo theo con gái để dỗ dành đưa về nhà.

Một buổi sáng khi ông đi tham gia vào đoàn cứu trợ, vợ ông đi bán bánh, cô con gái tội nghiệp đã bỏ nhà đi, lần ấy ông mất cả tuần lễ, đi bộ mấy trăm cây số mới tìm thấy Trâm.

Thấy ông ôm cô con gái mất trí, nhếch nhác, khóc nức nở, bà con ở chợ Phương Lâm (Tân Phú - Đồng Nai) đã ủng hộ tiền xe để ông đưa con gái về. Từ đó ông buộc lòng phải làm cũi để giam con.

Khi chúng tôi đến thăm, Trâm bám song cũi nhìn ra, đôi mắt thất thần, điên dại sáng lên khi người cha xuất hiện. Cô cuống quýt bám lấy ông, chiếc cũi chật hẹp chỉ mỗi chiếc giường.

Chúng tôi hỏi vì sao không có chăn màn gì cả, ông gạt nước mắt nói: “Trong phòng có thứ gì xé được nó đều xé ăn cả, may sao nó không xé quần áo, nên chẳng dám để thứ gì trong phòng.

Những đêm trời lạnh nghe tiếng rên rỉ của con, tôi mang mền ra quấn vào người nó và phải thức cả đêm canh cho nó khỏi xé, cũng may là nó còn biết nghe lời tôi. Mẹ nó có thương cũng đành đứng nhìn chứ không làm gì được. Nó chỉ chịu một mình tôi chăm sóc nó".

Các em của Trâm đã gom góp tiền xây cho cha mẹ một căn nhà nhỏ để ở, nhiều lần ông Chấn đưa Trâm vào nhà, nhưng cô nổi cơn phá tanh bành những vật dụng ít ỏi trong nhà và bôi bẩn khắp nơi, ông Chấn lại phải đành nhốt con vào trong cũi.

Nguyễn Duy Nhất

 

Người săn sóc những hương hồn lạnh

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Người dân ở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai ai cũng biết ông, họ nhắc đến ông bằng sự trìu mến và kính trọng. Ông là Nguyễn Văn Sáng, còn bà con chòm xóm gọi ông bằng cái tên thân mật: Ông Tám Hiệu.

Ông Sáng bên Bia Ký - công trình nghĩa trang ấp Cấp Rang do gia đình ông hỗ trợ toàn phần kinh phí tôn tạo

Đi xây mộ người dưng

Mấy ngày qua, tại thị xã nhỏ bé này, mọi người bàn tán về việc ông Huỳnh Văn Tới, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, đích thân đến tận nhà thăm hỏi và mời ông về dự đại hội thi đua tỉnh Đồng Nai.

Nhiều năm qua, ông Tám Hiệu dùng tiền bạc của mình xây 131 nấm mồ không có người thân chăm sóc. Hàng năm vào ngày 20 tháng 6, ông đều tổ chức đám giỗ tập thể rất lớn cho những người đã khuất, mà không có thân nhân.

Trên đường đi tìm ông, anh xe ôm tên Sĩ bảo với tôi: “Mỗi năm, ông Tám Hiệu bỏ ra khoảng chục triệu để làm đám giỗ cho những người không tên tuổi là một việc làm khác thường, nhưng chưa khác thường bằng việc ông bỏ ra cả tỷ đồng để xây hàng trăm ngôi mộ tình thương. 

Ở cái xứ đất đỏ “nắng bụi mưa lầy” này ai cũng biết ông, biết rất rõ từ lúc ông còn nghèo khổ cho đến lúc giàu có, bởi cuộc đời của ông khác thường lắm!”.

Chuyện xây mộ của ông bắt đầu từ năm 1982, thời kỳ bao cấp nhiều người kiếm cơm lo cho người sống chưa xong thì ông Tám Hiệu lại có đủ tiền lo cho người chết. Ông già lặn lội quy tập mộ của cha mẹ, anh, chị và bà con lại một nơi cao ráo bên cạnh rừng cao su để làm một nghĩa trang gia tộc.

Ngoài việc xây dựng những ngôi mộ khang trang, ông còn thuê hẳn ông già quản trang để nhang khói. Trong một buổi chiều mùa đông, rừng cao su đổ lá, ông Tám Hiệu ngồi bên mộ cha mẹ, nhìn lá vàng rơi hiu hắt trên những nấm mồ hoang vu bên cạnh khu nghĩa trang gia đình, ông chợt nhớ ngày mà ông chưa có nhà cửa ngủ bên hiên nhà người.

Ngày ấy, ông khao khát được đặt chân vào căn phòng đầy ánh sáng. Giống như nỗi khao khát của cô bé bán diêm với những que diêm cuối cùng trong đêm đông giá lạnh trong truyện cổ An đec xen.  

Truyền thống ông bà mình coi thế giới người chết như thế giới người sống, nên ông chạnh lòng trước cảnh  “nhang khói vắng tanh” của những nấm mồ vô chủ, ông đã quyết định xây mộ cho họ những “ngôi nhà” tình thương. Khi ông khởi công, nhiều người ngạc nhiên hỏi vì sao ông lại làm cái việc kỳ quặc như vậy?. 

Ông tâm sự: “Tôi không biết họ là ai, nhưng nhiều năm tôi thấy những ngôi mộ này không ai chăm sóc, lạnh lẽo giữa rừng cao su bạt ngàn, nên tôi đã quyết định xây mộ cho họ và làm đám giỗ tập thể. Tôi nghĩ có thể họ là những người “phu cạo” tha phương cầu thực rồi gửi nắm xương tàn lại đất khách quê người như cha mẹ tôi, nên tôi động lòng”.

Sau khi xây 110 ngôi mộ không có người thân và làm tường rào khu nghĩa địa thì nhiều người trong xóm đến xin ông giúp đỡ, vì họ quá nghèo không đủ tiền xây cho người thân.

Ông đã xây thêm 21 ngôi mộ nữa. Nhiều người cảm kích bày tỏ lòng biết ơn thì ông chỉ nói: “Tôi có được như ngày hôm nay là nhờ sự cưu mang của biết bao nhiêu người, việc làm của tôi có đáng gì đâu”.

Làm giàu từ gian khó

Cái “ngày hôm nay” của ông Tám Hiệu là cơ sở dịch vụ cơ khí Nghĩa Thành, chuyên sản xuất cối xay cà phê, sửa chữa nông cụ ở đường Hùng Vương, thị xã Long Khánh, Đồng Nai. Hàng của ông bán chạy, tuy không thuộc loại giàu có nhưng ông cũng có của ăn, của để.

Để có được ngày hôm nay ông đã phải trải qua quãng đời dài gian truân vất vả. Quê ở Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, năm lên 3 tuổi, cha mẹ vào xứ đất đỏ này để làm “công tra” cho Pháp. Rừng thiêng nước độc, đã cướp mất song thân năm ông mới lên chín tuổi, người anh theo Việt Minh cũng bị lính Pháp bắn chết.

Từ nhỏ ông phải làm đủ nghề để kiếm sống, ông còn nhớ thời khổ nhất là lúc ông lê la khắp các cánh đồng vùng Long Khánh, làm “bù nhìn sống” đuổi chim, để kiếm cơm độ nhật. Không quản ngại khó khăn gian khổ, làm đủ thứ việc để giành giật từng giây của cuộc sống.

Năm 15 tuổi, ông được một chủ ruộng thương, khuyên ông nên kiếm một cái nghề để sau này còn sinh sống, chứ không thể làm “ bù nhìn” mãi được. Nghe lời khuyên của người nông dân tốt bụng, ông khăn gói lên Dầu Giây tìm đến tiệm cơ khí lớn xin học nghề.

Nhờ vào tính cần cù, siêng năng, chịu đựng được gian khổ, sau 3 năm học việc ông trở thành người thợ có tay nghề vững được chủ yêu mến. Khi dành dụm được ít tiền ông quyết định tự lập, bằng cách vay mượn thêm của bạn bè mua chiếc xe lam chở khách.

Suốt bảy năm ăn cơm với nước lèo, nước tương, ông mới trả xong nợ. Sau ngày đất nước thống nhất, ông quay về nghề làm cơ khí.

Năm 1977, trong bối cảnh đất nước “quốc doanh hóa” cơ sở của ông gặp không ít khó khăn. Nhìn người nông dân làm được hạt cà phê, phải chong đèn bóc vỏ theo phương pháp thủ công, ông lén chế ra chiếc cối xay cà phê mang gửi trong rẫy cho nông dân xay.

Ông kể: “Chiếc máy đầu tiên tôi đã phải sơn màu xanh lá cây để giấu trong vườn cho khỏi bị các cơ quan chức năng phát hiện, vì nếu biết họ sẽ tịch thu.

Chiếc cối xay cà phê của ông được nhân dân rất ưa chuộng, họ rỉ tai nhau và tìm đến ông. Khi đất nước đổi mới, cơ sở chuyên sản xuất và sửa chữa nông cụ của gia đình ông  phát triển nhanh chóng nhờ lượng khách hàng quen từ thời “ngăn sông cấm chợ” .

Cho đến nay Nghĩa Thành vẫn  là cơ sở cơ khí lớn mạnh nhất ở thị xã Long Khánh. Anh Thanh Hùng, con trai ông tâm sự: “Xét về mặt giá thành thì sản phẩm của cha tôi không rẻ hơn sản phẩm được chế tạo ở thành phố, nhưng bán rất chạy, khi người nông dân đã tin thì giá cả không còn quan trọng nữa.

Chiếc cối xay cà phê đã mang lại cho ông hàng trăm lượng vàng. Lẽ ra ông đã trở thành “đại gia”, nếu ông dùng số tiền đó mua đất, nhưng ông lại mang đi xây mộ, một việc chưa ai làm bao giờ!

***

Trong Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Đồng Nai mới đây, nói về việc làm của ông, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa nhận xét: “Việc làm của ông đã mở ra một khái niệm mới “Xây mộ tình thương”. Việc làm ấy phù hợp với truyền thống của dân tộc”.

Nguyễn Duy Nhất

Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.