VIẾT VỀ NHÀ VĂN KHÔI VŨ

Văn học nghệ thuật Trackbacks (0) Bản in góp ý (5)   
 

KHÔI VŨ: NGƯỜI LẮNG NGHE TIẾNG NÓI CỦA NỘI TÂM!

       

Nhà văn đoạt giải Nobel văn học 1992 Derek Walcott tuyên bố quan điểm: "Nhà văn không bao giờ bị khuất phục bởi bất kỳ một ý kiến nào. Nhà văn chỉ cần lắng nghe tiếng nói nội tâm của mình. Anh ta có quyền chọn lựa yếu tố văn hoá cho chính mình bất luận chính xác hay không chính xác." Tôi chợt thấy câu ấy đúng với một nhà văn ở Đồng Nai mà tôi quen biết từ khi tôi mới cầm bút, đó là nhà văn Khôi Vũ. Không phải là kẻ cố chấp, nhưng anh là người luôn lắng nghe tiếng nói nội tâm của mình và tự chọn con đường mình đi mà không hề khuất phục trước bất kỳ ý kiến nào. Tên thật là Nguyễn Thái Hải, sinh năm 1950, lớn lên tại Biên Hoà trong một gia đình trung lưu, tuổi thơ anh có cuộc sống khá đầy đủ nhờ vào tài tháo vát của cha mẹ, khi vào đại học anh đã có xe hơi riêng để đi học. Dù rất giỏi các môn tự nhiên, là sinh viên đại học Dược nhưng anh rất say mê văn chương. Bỏ qua lời khuyên của nhiều người kể cả người thân anh lao vào công việc "vớ vẩn" (theo quan điểm của một số người) từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Những năm 70, tại Biên Hoà bạn đọc trong Nam chú ý đến hai cây bút trẻ, đó là Nguyễn Tất Nhiên và Nguyễn Thái Hải. Nguyễn Tất Nhiên buồn bã, khốc liệt bởi những vần thơ đầy nỗi cô đơn. Nguyễn Tất Nhiên được biết nhiều nhờ bàn tay tài hoa của nhạc sĩ Phạm Duy chạm vào. Nguyễn Thái Hải lặng lẽ hơn với những truyện viết cho thiếu nhi. Hàng loạt truyện dài, truyện vừa của anh được xuất bản. Có lẽ không phải lăn lộn nhiều ngoài đời, nên truyện của Nguyễn Thái Hải như những bông hoa tỉa tót kỹ lưỡng, được cắm vào trong chiếc bình thuỷ tinh trong suốt. Truyện thiếu nhi của anh vừa đẹp đẽ vừa hiền hoà. Hiền hoà đến nỗi hai thằng con trai cãi nhau kịch liệt nhưng anh không dám cho chúng đánh nhau (Truyện dài Những trái sao xoay). Trong cuốn địa chí Đồng Nai, những người soạn sách nhận xét về Nguyễn Thái Hải: "Nhiều tác phẩm của Nguyễn Thái Hải được độc giả nhỏ tuổi ưa thích như: Hoa tầm gửi, Chiếc lá thuộc bài, Mùa sương mù, Ngoài cửa sổ ...( 1970) Truyện của Nguyễn Thái Hải đưa bạn đọc đến với thế giới tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng. Lời văn nhẹ nhàng mạch lạc. Anh gần gũi, thân thiết và kể với tuổi thơ những chuyện đời nho nhỏ thắm tình nhân ái"

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong bối cảnh chung đất nước gặp nhiều khó khăn, Nguyễn Thái Hải cũng phải lao vào cuộc mưu sinh. Anh phụ vợ mở quán chè ở khu Phúc Hải, quán chè của vợ chồng anh là quán chè đầu tiên của " phố chè cân" nổi tiếng ngày hôm nay. Nhà văn được vợ giao nhiệm vụ "bào đá" để bỏ vào ly chè. Anh tranh thủ làm cho xong nhiệm vụ rồi chạy vào nhà ôm chiếc máy chữ cũ kỹ của mình gõ lạch cạch suốt ngày. Tay đánh máy, đầu suy nghĩ, tai luôn ngóng tiếng vợ kêu khi cần vậy mà Nguyễn Thái Hải vẫn cho ra hàng chục truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi.  Truyện ngắn vốn là sở đoản của anh, anh biết rõ điều đó nên anh chỉ viết truyện ngắn khi không thể viết tiểu thuyết. Trong thời kỳ này, Nguyễn Thái Hải đã khẳng định mình là cây bút tiểu thuyết số hai của Đồng Nai với bút danh Khôi Vũ. Các tiểu thuyết: Người có một thời, Giữa dòng đời, Lời nguyền hai trăm năm, Ngọn lửa âm thầm, Triệu phú.... làm cho nhiều bạn đọc ngỡ ngàng khi biết Khôi Vũ chính là Nguyễn Thái Hải. Bởi hai bút danh này có văn phong hoàn toàn khác nhau. Là hậu bối, người viết bài này xin trích một đoạn trong cuốn Địa chí Đồng Nai đoạn nhận xét về các tiểu thuyết của Khôi Vũ: Tất cả những tiểu thuyết của Khôi Vũ đều viết về cuộc sống bề bộn của ngày hôm nay. Nhà văn khám phá cuộc sống từ nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau. Lời nguyền hai trăm năm là tác phẩm tiêu biểu nhất của Khôi Vũ trong hai mươi năm cầm bút. Đây cũng là tác phẩm văn học đầu tiên ở Đồng Nai sau năm 1975 đoạt giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam (1990). Cuốn sách viết về dòng họ trải qua 200 năm vẫn bị một lời nguyền ám ảnh và săn đuổi: Phải làm điều ác để duy trì dòng dõi của mình. Bao người toan "bẻ nạng chống trời" nào có làm được. Đến thời Hai Thìn, nhân vật hiện tại, hiểu rõ lời nguyền từ trong cội nguồn của nó. Nhưng anh lại là người duy nhất của dòng họ cưỡng lại để rồi nhận lấy cái chết. Song, đấy là cái chết để điều thiện được hiện hình và cái ác phải bị đẩy lùi. Lời nguyền hai trăm năm là bài ca khắc nghiệt cay đắng nhưng hân hoan của cuộc hành trình cưỡng lại định mệnh để trở về với điều thiện. Con người dù phải chết, cũng không làm điều ác. Điều ấy là triết lý sống của nhà văn ( trang 254 tậpV)

            Bỏ qua những lời can ngăn, nhà văn Khôi Vũ vẫn tiếp tục dấn thân trên con đường văn chương, trong hành trình khắc nghiệt này anh đã gặt hái những vinh quang mà nhiều người cầm bút phải mơ ước. Bên cạnh đó anh gặp không ít trắc trở từ chính ngòi bút của mình mang lại. Những chuyện ấy tôi nghĩ không nên nêu ra đây làm gì, bởi nó sẽ làm phiền lòng nhiều người. Tuy nhiên có một "tai nạn nghề nghiệp" mà sau khi sóng gió qua đi nó lại trở thành niềm tự hào của nhà văn, đó là chuyện "nhân vật" nổi loạn. Vào năm 1987 vừa phụ vợ bán chè, vừa sáng tác, cuộc sống với những chất liệu ngồn ngộn diễn ra trước mắt, thế là nhà văn nhìn qua dãy phố và bê vào tác phẩm của mình. Truyện vừa "Chuyện ở dãy phố Năm căn" được NXB Đồng Nai ấn hàng với số lượng khá lớn. Sau khi sách ra ít lâu, những cư dân ở cùng dãy phố với nhà anh, ùn ùn kéo đến đòi phá nhà khiến nhà văn phải một phen vất vả. Dù thay tên đổi họ và cốt chuyện thì hư cấu nhưng ai cũng nhận là mình có mặt trong tác phẩm. Cuối cùng phải nhờ sự can thiệp của Hội văn nghệ và lãnh đạo tỉnh, các ngành chức năng họp dân giải thích họ mới chịu để yên.

Thời mở cửa với tấm bằng dược sĩ và một ít vốn liếng ngoại ngữ nhà văn được một hãng thuốc Tây danh tiếng ở Thuỵ Sĩ mời làm nhân viên cho họ. Mức lương mà nhà văn dược sĩ  nhận được hàng tháng tương đương nhuận bút của 5 cuốn tiểu thuyết. Những tưởng anh sẽ giã từ ngòi bút để sống cuộc đời bình yên với mức thu nhập trung lưu ấy, nào ngờ đùng một cái anh bỏ ngang, bất chấp cả sự can ngăn của bạn bè và người thân. Anh bảo: "Tôi đi làm cho nước ngoài để tích luỹ vốn sống, kiếm chất liệu cho văn chương, bây giờ tạm đủ nên tôi nghỉ, có thế thôi!" Thời gian này anh cho ra đời tiểu thuyết: Ngọn lửa âm thầm và hàng chục truyện ngắn.

Từ đó về sau anh làm đủ nghề để kiếm sống, biên tập báo, trình bày sách, kể cả tham gia chấm thi văn nghệ quần chúng, để làm công việc viết văn. Ngoài niềm đam mê văn chương, nhà văn Khôi Vũ còn đam mê với việc "phát hiện những năng khiếu văn chương". Là một con người kiên quyết thực hiện đến cùng những ý tưởng của mình, Khôi Vũ không ngần ngại đổ ra hàng đống tiền tích luỹ hàng chục năm để làm tờ báo thiếu nhi. Tờ Dưới mái trường chuyên đăng các sáng tác thiếu nhi  do nhà văn Nguyễn Thái Hải - Khôi Vũ chủ biên ra đời. Dù được Hội Văn nghệ Đồng Nai ủng hộ hết mình nhưng những số đầu tiên gặp không ít khó khăn.  Ở Đồng Nai có những tấm lòng thông cảm với "sự nghiệp" đầy tính phiêu lưu của anh như: Tiến sĩ Huỳnh Văn Tới, Nhà giáo Đỗ Hữu Tài, Hoạ sĩ Nguyễn Nam Ngữ, Nhà Giáo Tạ Quốc Hạnh... mọi người cùng anh xây dựng tờ báo "Dưới mái trường", tờ báo thiếu nhi chuyên đăng sáng tác của các em đã ổn định số lượng phát hành và có vị trí trong lòng bạn đọc nhỏ tuổi...

Đúng mười năm chào đời và đang trong giai đoạn " ăn nên làm ra", anh quyết định ngưng "cuộc chơi", gom góp nhuận bút của những tác phẩm tái bản của mình cng với sự hỗ trợ của Hội VHNT Đồng Nai anh xuất bản cho các em một tuyển tập văn thơ và bỏ qua sự tiếc nuối khuyên nhủ của nhiều người anh đóng cửa tịa soạn để rong chơi và viết tiểu thuyết. Khôi Vũ là vậy, anh chưa bao giờ bị tác động bởi ngoại lực.

Không biết có phải " tiếng nói nội tâm" của nhà văn luôn mách cho anh điều chính xác hay không, nhưng đôi khi những ý kiến ngang phè của anh lúc đầu nghe rất khó chịu, thậm chí có vẻ kiêu ngạo nhưng dần dần thời gian chứng minh những ý kiến ấy luôn hợp với lẽ phải.

Chính anh đã từng nói với tôi: "Người nào mà mình quá quen sẽ rất khó viết về họ". Quả nhiên đúng!  Tôi và anh quen và thân nhau hơn hai mươi năm mà mãi đến nay tôi mới phát hiện được một cái tứ để viết vài dòng về anh sau khi suy ngẫm về câu nói của nhà văn Derek Walcott .


Tưởng niệm Đặng Ngọc Khoa

Bút ký của Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (2)   
 

KHOẢNH KHẮC

Tưởng niệm Đặng Ngọc Khoa

          "Quá khứ không phải là quãng thời gian người đời đã sống mà là những khoảnh khắc mà chúng ta không thể quên, không bao giờ quên"- Đó là một ý tưởng được viết trong bộ phim về thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, mà tác giả lời bình là người bạn của tôi, cũng là bạn của anh Khoa - nhà văn Bùi Quang Huy.

Tôi thích câu nói ấy, bởi thời gian bươn chải trên đường đời, dung nạp quá nhiều bụi bặm trần gian, tôi đã phải tập quên nhiều thứ tình cờ hay hữu ý đi vào trong đời mình, huống hồ những chuyện mươi, mười lăm năm qua.

Tôi bay về Đà Nẵng đứng bên linh cửu anh lặng lẽ khóc, những khoảnh khắc mờ ảo chập chờn của tháng ngày trên miền đất đỏ bazan Long Khánh hiện về. Trong lúc bạn bè thân hữu của anh đọc thơ anh, hát cho anh nghe. Tôi lẩm bẩm đọc câu thơ mà ngày xưa, tôi vẫn thường hay đọc cho anh nghe "Đất nặng tình nên đất nhuộm màu son và cũng làm nên bao điều ly biệt". Những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trần Thanh Hiệp, khi ông ‘tiểu ẩn" ở Long Khánh - Nơi Khoa cũng về "đại ẩn" một quãng thời gian ngắn.  Tôi ngồi cùng anh ở quán cóc vỉa hè trước nhà văn hóa nhìn qua bệnh viện, để suy gẫm về thân phận con người, nói những chuyện vu vơ về thơ ca. Nhìn những con người chân lấm tay bùn vào bệnh viện, cả người họ sẫm màu đất đỏ BaZan, nhìn những chiếc băng ca trắng đưa ra khỏi nhà vĩnh biệt anh buồn rầu đọc: " Ta rồi chết giữa mùa màng. Mẹ ta đi gặt bàng hoàng: Khoa ơi!" Tôi khẽ rùng mình. Anh viết về những sai sót của bệnh viện, rồi anh gặp tai nạn nghề nghiệp về một chi tiết trong bài viết ấy, chi tiết sai sót vì anh quá tin một người cung cấp thông tin. Tôi phàn nàn: "Anh quá tin người". Anh nạt: "Cho dù cuộc đời có trăm người phản trắc, thì tôi vẫn tin rằng bản chất con người là tốt."Tôi ngại tranh luận cùng anh về báo chí, bởi bao giờ tôi cũng thua cuộc, anh say sưa sôi nổi nhiệt tình với xã hội, nhiệt tình với cuộc đời. Thoạt nhìn dáng "hầm hố" của anh, đọc những bài phóng sự điều tra nảy lửa của anh, người ta dễ nhầm lẫn anh là nhà báo chuyên chuyện "đấm đá", nhưng không phải vậy, tố chất văn chương của anh quá nhiều, "nhà văn là những người biết cúi xuống tìm kiếm thân phận con người", thời gian ở Long Khánh là quãng thời gian mà anh luôn cúi xuống để tìm kiếm thân phận con người. Những đứa trẻ trong rừng cao su, rồi những phận người đau tim, nghèo khổ, ung thư ... được anh đưa lên mặt báo để bạn đọc có cơ hội chia sẻ cùng đồng loại.

      Từ một nhà giáo, rồi viết văn, rồi tập viết báo, tôi ngây ngô và nhút nhát trước cuộc đời, những bài báo tôi viết ra nhợt nhạt thiếu lửa cho tới khi gặp anh. Tôi luôn đến nhà anh chơi đùa với hai "thiên thần" của anh. Tôi đến trong tư thế rụt rè của cậu học trò nhỏ để mong được nghe anh nói về nghề báo. Anh đưa tôi vào cuộc với các phóng sự xã hội, điều tra, những bài viết của tôi trền Tiền Phong lúc ấy đều có ngọn lửa từ Đặng Ngọc Khoa truyền qua.

"Đi thôi!" - Anh thơm đôi má bầu bỉnh của con gái và nói với tôi. Cô con gái rượu bây giờ là thiếu nữ đứng bên anh, nước mắt cứ lặng lẽ trào ra trong đôi mắt u buồn như những buổi chiều mưa trên miền đất đỏ ngày xưa.

"Đi đâu" - Tôi hỏi.

"Đồng bào Chơ Ro đang đói trên rừng lá, đi viết bài kiếm gạo về cứu trợ cho họ, kiếm tiền làm trường cho con họ học"

"Đi!"

"Đi đâu?"

" Diêm dân Bà Rịa, mất mùa muối, muối rẻ, bà con đang khổ"

Mười một giờ khuya, trời mưa tầm tả,  mưa miền đông ào ạt như "cầm chỉnh mà đổ", tôi cuộn tròn trong chăn, anh dựng tôi dậy bảo:

"Đi!"

          "Đi đâu?"

"Đi làm báo!"

          "Trời!"- Tôi kêu lên.

" Cầu gãy ngoài Bình Thuận, lũ về hàng trăm ngôi nhà bị cuốn trôi, ở đó mà nệm ấm chăn êm, làm báo chi lạ rứa. Gọi điện về tòa soạn đi, bảo chờ tin cầu gãy để mai xe miền Bắc khỏi vô, mất công bà con. Mặc áo mưa vào lên đường nhìn cho tận mắt rồi đưa tin viết bài" - Anh ra lệnh tôi không kịp thở, giọng nói anh đầy quyền uy, một thứ quyền uy của trái tim.

Đêm hôm ấy mưa mờ mịt. Khoa ơi anh nhớ không? - Tôi thì thầm trước linh củu anh, những khoảnh khắc mà không bao giờ tôi quên được. Quá khứ của tôi và anh phải chỉ là sự giới hạn của thời gian khoảng mười năm ở Long Khánh mà dường như kéo dài biên độ không gian đến tận bây giờ và sau này, nếu "quá khứ" đúng như định nghĩa của Bùi Quang Huy.

Tôi lại khóc - những giọt lệ âm thầm.

NGUYỄN MỘT TRẢ LỜI PV BÁO LAO ĐỘNG

Viết về Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (2)   
 

Nhà văn Nguyễn Một: "Tôi cày ải ngay trên thân phận mình"

Lao Động Cuối tuần số 49 Ngày 06/12/2009 Cập nhật: 7:11 AM, 06/12/2009

Nhà văn Nguyễn Một.

(LĐCT) - Quen biết Nguyễn Một từ thời anh còn là phóng viên báo Tiền Phong phụ trách khu vực Đồng Nai, những lúc thù tạc với nhau, tôi ngờ ngợ anh nặng nghiệp văn hơn nghiệp báo.

Rồi Nguyễn Một bặt tăm trong làng báo, hỏi ra mới hay anh bỏ nghề đi làm việc cho một doanh nghiệp. Gặp nhau, Nguyễn Một tặng tôi cuốn tiểu thuyết "Đất trời vần vũ" vừa được vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn VN 2006 - 2009 - và từ tốn nói theo cách của anh:

Đó là kết quả của mấy năm nhọc nhằn với chữ nghĩa. Xa nghề báo, lùi lại sau những xôn xao của tin tức thời sự, những tin bài phải đáp ứng cho toà soạn mỗi ngày, tôi có thời gian suy nghĩ, tĩnh tâm để viết. Tác phẩm có được bạn đọc đón nhận hay không thì chưa biết, nhưng viết làm cho tôi thấy lòng mình an ổn, thấy như mình đã trả được nợ nần với ai đó.

Thời còn làm báo anh vẫn viết và xuất bản nhiều tác phẩm, hình như nhờ làm báo nên anh có thêm nhiều vốn sống để viết văn, có phải vậy không?

- Tôi từng đi chăn trâu, làm ruộng, chặt củi, đốt than, làm mướn, từng là thằng bán càrem, đi vẽ quảng cáo, vẽ chân dung, chụp hình dạo. Tôi lọ mọ từ trong nghèo đói để đi học trung học sư phạm rồi lên học đại học sư phạm. Tôi sung sướng khi được đến với bảng đen phấn trắng để gõ đầu trẻ ở cái trường nhỏ dưới chân núi Chứa Chan của huyện Long Khánh - Đồng Nai.

Và tôi vô cùng hạnh phúc khi trở thành một nhà báo, được đi đó đi dây, được làm công việc tôi say mê nhất là viết. Vốn sống của tôi là cả một quảng đời như thế, trong đó có một giai đoạn làm báo.

Tôi chia sẻ với Nguyễn Một về những điều anh vừa nói. Ở lứa tuổi của anh, ai cũng trải qua những năm tháng đói nghèo, cơ cực. Nhưng tôi biết Nguyễn Một gặp khó khăn hơn nhiều bạn bè cùng thế hệ. Cha mẹ anh mất trong chiến tranh, anh sống với bà ngoại rồi phiêu dạt vào miền Nam từ năm 1975. Anh lầm lũi bước đi trong cuộc đời, tìm cái ăn và tìm cái chữ cho mình. Như anh từng tự sự trong bài thơ viết về sinh nhật: "Người miền Trung có sinh nhật bao giờ đâu! Dòng sông quê cát trắng đôi bờ. Như tấm gương soi cuộc đời cơ cực. Cha tôi xoè bàn chân Giao Chỉ. Bám đường cày bật máu tươi. Để đổi lấy bữa cơm hai phần là khoai sắn. Lát sắn tròn vành vạnh như mặt trăng trên bầu trời trong vắt. Xới thế nào cũng chẳng dính nỗi hạt cơm. Những đứa trẻ mang nơm ra đồng. Chụp vào chiếc bóng của mình. Lấm láp đất bùn. Lấm láp mưu sinh. Những thằng con trai Quảng Nam sáng chăn trâu chiều về đi học. Có thời gian đâu mà sinh nhật hỡi em!".

Trong cái vốn sống dằng dai nhiều chặng lấm lem rách rưới đó, hình như anh thương nhất là tuổi thơ của mình. Cái tuổi thơ đó có bóng dáng trong những tác phẩm dành cho thiếu nhi của anh không?

- Tôi tuổi thơ khá nhọc nhằn và khổ ải ở miền Trung, cha mẹ mất sớm, tôi bước vào cuộc sống vất vả hơn những đứa trẻ khác. Nhưng tuổi thơ của tôi, có dòng sông, có cánh đồng, có những tháng ngày băng đồng lội ruộng, có những ngọn đồi hoang hoải sắc tím hoa sim, hoa mua mênh mang buồn, tất cả hình ảnh đó tôi đưa vào trong các truyện thiếu nhi của mình. Mãi năm 30 tuổi tôi mới nghĩ, sao mình không viết lại chuyện của tuổi thơ mình cho các em học sinh và cho con mình đọc, vậy là tôi viết.

Những truyện ngắn đầu tay của tôi là truyện thiếu nhi. Những truyện này được tập hợp lại thành tập truyện có tên loài hoa quê tôi: "Hoa dủ dẻ", một loài hoa dân giã đến chết khô vẫn còn thơm và sau khi lần lượt in trên Áo trắng và Tuổi hồng, được NXB Kim Đồng ấn hành với bút danh Dạ Thảo Linh.

Khi biên tập cuốn sách này, nhà văn Nguyễn Quang Lập gọi điện cho tôi và nhận xét: "Mày viết như cánh hoa đồng nội nhưng được tỉa tót cẩn thận và cắm vào chiếc bình thuỷ tinh trong suốt, rất hay nhưng chỉ có bọn con gái thích đọc, chứ con trai không khoái lắm". Từ lời nhận xét chân tình của nhà văn đàn anh, tôi viết truyện dài "Năm đứa trẻ xóm đồi" rất con trai!

Sau này,vì cuộc sống tôi chuyển nghề, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ về các em bởi vì tôi có 15 năm dạy học. Cho nên cứ âm thầm viết cho thiếu nhi, nhiều người biết có một người tên Nguyễn Một viết văn, nhưng ít người biết tôi luôn viết cho các em nhỏ dưới cái tên của con gái tôi: Dạ Thảo Linh.

Sinh ra ở đất Quảng Nam nhưng sống ở đất Đồng Nai. Cái cù lao Dao trong "Đất trời vần vũ" nén chặt thông tin địa lý, lịch sử, vùng đất, tính chất của con người của vùng đất này. Đọc tác phẩm, thấy rõ anh đã dày công và dày tình cho xứ sở Đồng Nai lắm!

- Tôi sinh ra ở Quảng Nam trong thời chiến tranh, năm 1975 theo đoàn lưu dân lênh đênh trên biển, đói khát, người chết như rạ, ném xuống biển cho cá ăn, dạt vào đảo Phú Quốc. Sau này về Đồng Nai sinh sống. Vùng đất bao dung đó nuôi tôi lớn lên. Những "đau khổ, buồn vui, chia lìa, hạnh phúc" đều diễn ra ở Đồng Nai. Quảng Nam chỉ còn trong ký ức lờ mờ của tôi với những ngày cháy nắng, nên coi Đồng Nai là quê hương của tôi cũng đúng.

Người miền Đông nói chung và người Đồng Nai nói riêng có tính cách rất khác với vùng đất khác. Họ có chất hào phóng, khí phách của dân khai khẩn, một chút khôn ngoan của dân miền Bắc và một chút tỉnh táo của dân miền Trung, những cái đó kết hợp thành một tính cách riêng biệt rất miền Đông.

Tôi mê chất trượng phu người miền Đông, Vì những lẽ đó mà văn của tôi chẳng cố tình ưu ái gì cả, tự nhiên vậy, mà miền Đông cứ hiện ra như anh thấy đó. Từ lâu các bạn đọc khắp nơi nghĩ rằng miền Đông cũng như miền Tây, cũng mênh mang sông nước, cũng trái cây, ghe xuồng. Tôi nghĩ mình mắc nợ vùng đất này, nên khi viết "Đất trời vần vũ" dù hư cấu nhưng bạn đọc dễ dàng cảm nhận không gian huyền ảo của miền Đông, một vùng đất hoàn toàn khác miền Tây.

Nhiều người cho rằng văn chương khó sống, hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Anh có thấy khó sống không, và anh phải tìm cách gì để bản thân và tác phẩm của mình sống mà không rẻ rúng?

- Ở đây tôi xin phép không bàn nghĩa đen vì điều đó quá rõ. Ai cũng biết Việt Nam chỉ vài người sống được nhờ văn chương, nếu cố dùng văn chương để sống theo nghĩa đen thì văn chương sẽ nhanh chóng chết sớm theo nghĩa bóng.

Tôi luôn cố gắng làm cho văn chương của mình sống theo nghĩa bóng trong lòng bạn đọc bằng tình yêu thực sự, cuộc sống thực sự và sự hy sinh thực sự, còn văn chương có sống lâu được không phải tuỳ vào bản thân tác phẩm. Bởi mỗi tác phẩm ra đời có số phận riêng của nó, nhà văn không can thiệp được nữa. Còn đời sống (theo nghĩa đen) hiện nay, tôi có một công việc ổn định thu nhập khá, một ông sếp chấp nhận được cái lơ mơ của nhà văn và một người vợ dám yêu nhà văn.

Anh từng nói đề tài của văn chương tràn trề trước mặt, như những mảnh ruộng có sẵn và nhà văn nào cũng có thể cày xới. Anh đã chọn lựa cho mình mảnh ruộng nào để cày xới ở cái tuổi cầm bút đang chín?

- Tôi sẽ cày ải ngay trên mảnh ruộng "thân phận" của tôi và những người thân, bạn bè tôi, đất nước tôi.

Xin cảm ơn anh!

Tác phẩm đã in:

Bút danh Dạ Thảo Linh

Hoa dủ dẻ - Tập truyện - NXB Kim Đồng 1997. Năm đứa trẻ xóm đồi - Truyện dài - NXB Kim Đồng 1999. Ngũ hổ tướng - truyện dài - NXB Trẻ 2000. Màu hoa trắng - Truyện ký - NXB Kim Đồng 2001. Long lanh giọt nắng - Truyện dài- NXB Kim Đồng 2003. Mùa trái chín - Truyện vừa - NXB Đồng Nai 2004.

Bút danh Nguyễn Một


Tha hương - Tập truyện ngắn - NXB Đồng Nai 1996. Vũ điệu trên đỉnh Kung Pô - tập truyện ngắn - NXB Thanh Niên 2001. Quà của đất - Tập bút ký - NXB Đồng Nai 2002. Như là cổ tích - Tập truyện ngắn - NXB Hội Nhà văn 2005. Giữa đời thường - Tập bút ký - NXB Đồng Nai 2005. Dòng sông độ lượng - Tập bút ký - NXB Văn nghệ 2008. Đất trời vần vũ - Tiểu thuyết - NXB Hội Nhà văn 2009 ( Hiện vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn 2006 - 2009). Câu chuyện bên một dòng sông - Phim tài liệu VTC9 2009 (kịch bản, lời bình và đạo diễn). Hành trình ước mơ (kịch bản phim tài liệu).

Tác phẩm được giải:


Trước mặt là dòng sông - tặng thưởng truyện ngắn hay tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn VN tháng 5 năm 2002, truyện này được dựng thành phim với tên phim là: "Cổ tích về ngôi nhà" (đạo diễn Khải Hưng, Hãng phim Truyền hình Việt Nam 2003). Kẻ vô học - tặng thưởng truyện ngắn hay tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn VN tháng 11 năm 2002. Chim bay về núi - Giải thưởng truyện ngắn Đồng Nai 1994. Tặng thưởng Phim tài liệu chào mừng Biên Hoà 310 năm của UBND tỉnh Đồng Nai. Giải thưởng Trịnh Hoài Đức 2008. 

Lê Thanh Phong thực hiện

http://www.laodong.com.vn/Home/Nha-van-Nguyen-Mot-Toi-cay-ai-ngay-tren-than-phan-minh/200912/165787.laodong

Vụ án chị Ba Sương "Hơn 100 chữ ký 'xin ở tù thay' bà Trần Ngọc Sương"

Viết về Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (4)   
 

Hơn 100 chữ ký 'xin ở tù thay' bà Trần Ngọc Sương

Sáng nay, với tình trạng sức khỏe ổn định, bà Trần Ngọc Sương đã có mặt tại tòa án. Trước đó, 110 người ở Nông trường Sông Hậu đã ký đơn xin ở tù thay vị nữ giám đốc từng nhận danh hiệu Người phụ nữ ấn tượng châu Á này.
> Hoãn xử người phụ nữ Ấn tượng châu Á /Bà Trần Ngọc Sương lãnh 8 năm

Sau 2 lần hoãn xử, ngày 19/11, TAND TP Cần Thơ đã mở phiên tòa phúc thẩm vụ "lập quỹ trái phép" xảy ra tại Nông trường Sông Hậu (NTSH) theo đơn kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc Sương (nguyên giám đốc) cùng các thuộc cấp gồm: Trương Hồng Nhung (nguyên phó giám đốc), Đặng Thế Quốc Hưng, (nguyên kế toán) và Nguyễn Văn Sơn (nguyên thủ quỹ).

Trước đó, ngày 15/8, tòa án huyện Cờ Đỏ đã tuyên phạt bà Sương 8 năm tù, bà Nhung 6 năm, ông Hưng 4 năm và ông Sơn 3 năm cùng về tội "lập quỹ trái phép".

Không đồng tình với mức án tòa sơ thẩm đã tuyên, 110 nông trường viên đã ký vào một lá đơn "xin được ở tù thay" cho nguyên giám đốc Sương, gửi đến Thường trực - Thường vụ Thành ủy TP Cần Thơ, Chánh án, Viện trưởng VKS TP.

Bà Sương tại tòa sơ thẩm. Ảnh: Tố Nhi.

Trong đơn, những người nhận có mặt từ những năm NTSH thành lập cho đến nay (ít nhất cũng gần 30 năm) cho rằng, mức án 8 năm tù và phải đền bù thiệt hại với số tiền hơn 4 tỷ đồng đối với bà Sương là quá khắt khe. "Một vị giám đốc suốt đời chỉ biết hy sinh lặn lội khắp nơi để tìm giống cây tốt, kỹ thuật chế biến, tìm kiếm khách hàng để có đầu vào và đầu ra nhằm mang lại cuộc sống ổn định, hạnh phúc cho bà con nông dân chúng tôi", lá đơn nêu.

Những nông trường viên trên cũng bày tỏ sự biết ơn cha con bà Sương. "Chúng tôi xin được ở tù thay cho cô Ba Sương nếu tòa quyết đưa cô vào tù. Mỗi người xin ở tù thay cho cô Sương một tháng vì tội của cô là tội chỉ lo cho mọi người chứ không có động cơ vụ lợi cho cá nhân...", các nông trường viên đề xuất.

Bản thân bị cáo Trần Ngọc Sương cũng làm đơn kháng cáo cho rằng mức án trên là thiếu công bằng, không đúng pháp luật và phiên tòa đã vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Việc buộc bị cáo bồi thường hơn 4,3 tỷ đồng là suy diễn không đúng pháp luật, không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị cáo.

Theo cáo buộc của tòa cấp sơ thẩm, trong quá trình giữ chức vụ giám đốc NTSH từ năm 2001 đến năm 2007, bị cáo Trần Ngọc Sương đã móc nối với cấp dưới gồm tự ý thành lập nguồn quỹ riêng bằng cách để ngoài sổ sách kế toán một số khoản thu từ: bán bạch đàn tại nông trường, cho thuê đất, thu quản lý công trình điện nông thôn, chi tiếp khách... Theo kết luận giám định tài chính, hành vi lập quỹ trái phép, chi tiêu tùy tiện xảy ra tại NTSH đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước tổng số tiền trên 4,5 tỷ đồng.

Ngoài ra, tòa sơ thẩm còn đề nghị VKS cùng cấp khởi tố vụ án, điều tra làm rõ hành vi "tham ô tài sản" đối với bị cáo Sương trong việc chi tùy tiện hơn 1,1 tỷ đồng.

Tố Nhi

http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2009/11/3BA15CEA/

Nhà thơ Thu Bồn

Viết về Nguyễn Một Trackbacks (0) Bản in góp ý (2)   
 

Nhà thơ Thu Bồn, tên thật là Hà Đức Trọng sinh ngày 1 tháng 12 năm 1935, Thu Bồn , là người con kiệt xuất của Quảng Nam  (xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam,) vào bộ đội năm mười một tuổi và là thiếu sinh quân ở đơn vị biệt động chiến đấu. Trong thời gian chiến tranh Việt nam, ông làm phóng viên chiến trường Liên khu V sau đó về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thu Bồn là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ miền Trung Trung Bộ và ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV. Ngoài thơ, Thu Bồn còn viết tiểu thuyết, nhưng ông được biết đến nhiều với những bài trường ca, trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là thành công có tính định hướng cho phong cách tiêu biểu của ông. Từ tác phẩm này ông được coi là "Cánh chim chơrao kiêu hùng trên bầu trời thi ca Việt Nam" . Ông mất từ năm 2003, nhưng thơ ông vẫn sống mãi trong lòng người đọc . Chiều nay lục lại bài viết về ông trên Tiền Phong cách đây đã 6 năm

THU BỒN: CHIM CHƠRAO VẪN VỖ CÁNH TRÊN BẦU TRỜI THI CA

Nguyễn Một

Một tháng trước từ giã cõi đời, trên đường đi Tây Ninh, nghe cô Huệ báo tin: "Thằng Một làm nhà", ông gọi điện chúc mừng, vẫn giọng Quảng Nam đầy khí phách, dù không rõ tiếng, ông đùa: " thế không ở luôn trong hội Văn nghệ à?. Đó là ông nhắc chuyện cách đây mấy năm, ngày tôi dọn về ơ nhờ Hội Văn học Nghệ thuật, ông và vợ - nghệ sĩ Lý Bạch Huệ đến thăm, ông ngọng nghịu nói:

"Cứ xin Hội cho ở tạm vài chục năm, hà... hà..., có ai ở mãi trên trần gian này đâu?". Ông đến thăm, tôi mừng phát run vì ông lừng lững quá- "Ông Hoàng trường ca" đến thăm vinh hạnh quá, tôi âm ỉ sướng mấy ngày liền.

Nghe ông hùng dũng đọc thơ ít ai nghĩ"đấng trượng phu" Thu Bồn có thể bật khóc nức nở khi gặp chuyện cảm động. Sau khi ông ngã bệnh lần đầu (năm 2000) được vài tháng thì nhà văn Nguyễn Đức Thọ, đưa em ông yêu quý nhất ở Đồng Nai từ trần. Sợ ông chịu không nổi, cô Huệ giấu không cho ông biết. Vợ chồng tôi lên thăm ông, vợ tôi vô tình để lộ chuyện này, đang cười đùa ông bật khóc nức nở, khóc ồ ồ như một đứa trẻ và ngất đi trong tay cô Huệ. Cô Huệ phải vất vả dỗ dành xoa bóp mãi ông mới tỉnh. Nếu không trực tiếp nhìn thấy, thật khó mà tưởng tượng ra cảnh nhà thơ Thu Bồn khóc. Bởi khi đọc Trường ca của ông, qua nhân vật của ông, người ta hình dung ra tác giả, một người đàn ông sừng sững, đội trời đạp đất: "Giết tao đi, tao sợ gì cái chết, xẻo đi lồng ngực của tao đây" ( bài ca chim chơrao)

Khi về ở suối lô ồ, ông đánh trần vác đá "xây thành đắp luỹ để tạo ra một chút Tây Nguyên bên thành phố, đêm về uống rượu cần đọc thơ. Nhà văn Nguyễn Đức Thọ kể rằng: " Thu Bồn đọc thơ mình như già làng đọc khan bên bếp lửa nhà rông, âm lượng khi trầm, khi bổng như hát, hai tay vung lên tựa cánh chim đại bàng, có lúc chụm lại như con hổ trong tư thế vồ mồi"

Một con người như vậy thì làm sao có thể khi dung được khi khóc!

Sau cái lần bất ngờ ngã giữa Tây Nguyên, nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, một tay gọi điện thoại cho bạn bè chuẩn bị, một tay ôm ông đưa về bệnh viện Chợ Rẫy. Chị làm hết sức mình để giật ông khỏi tay tử thần và sung sướng chăm sóc ông suốt mấy năm qua. Ông biết trước sẽ có ngày hôm nay, cái ngày ông nằm thanh thản trên "thành luy" mà ông xây dựng bên suối lồ ồ, nên trong cuốn sách cuối cùng của mình: Đánh đu cùng dâu bể ông viết đề từ: "Kính tặng hương hồn thầy mẹ tôi, kính tặng Đảng mến yêu, nhân dân vĩ đại, Tổ quốc anh hùng và sau cùnmg là mẹ đất, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi,cũng là nơi đón tôi về hoà tan với bụi đất quê hương"

Ông đi nhưng tiếng vọng của những trường ca hùng vĩ như tiếng vỗ cánh của bầy chim chơ rao trên bầu trời Tây Nguyên anh hùng nơi ông sống và chiến đấu, như tiếng gầm thét của dòng sông Thu Bồn mùa nước đỏ, nơi ông sinh ra sẽ ở mãi mãi cùng các thế hệ mai sau, những người chỉ biết cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại như một huyền thoại qua thơ ông và những nhà văn ở thế hệ của ông.

Ngày 8.7.2003, hai tuần sau khi ông mất, cô Lý Bạch Huệ gọi điện bảo tôi: "Ngày mai làm lễ khởi công xây mộ cho Thu Bồn, bạn bè gởi xuống cho anh rất nhiều kỷ vật, em lên nhé!" " Thế chị gởi gì ạ!" Tôi hỏi lại, chị buồn bả trả lời: "Chị muốn gởi chị xuống cho ảnh, nhưng chắc chắn ảnh sẽ không  nhận".

Hôm nay, đứng trước mộ ông trong nghĩa trang thành phố, nhìn người đàn bà mà ông yêu thương thất thần với những kỷ vật mà bạn bè của ông gởi về khắp mọi miền đất nước, chợt nhớ cú điện thoại của chị và đoạn văn buồn trong "Bãi hoang" tác phẩm độc nhất của R. Huguenin "...Người ta có thể hôn lên một cái miệng, một đôi mắt, nhưng làm sao hôn được nụ cười, một cái nhìn và nhất là biểu tượng của chúng, ánh sáng của chúng?..."Biết vậy nhưng mọi người vẫn gởi cho ông những vật thể tượng trưng cho những câu thơ bất hủ của ông. Một gói đất Điện Bàn, một dúm cát Điện Ngọc, lọ nước biển cửa Hàn, nơi ông sinh ra và khi còn ở trần gian ông đã thốt lên:" Mẹ đất ơi con yêu từng hạt bụi đau buồn của mẹ". Ông yêu đất như yêu con người:

Tôi cúi xuống hôn mảnh đất quê hương

Như hôn người yêu sau ngày xa cách

Quảng Nam, còn gởi xuống cho ông phiến đá Ngũ hành, một bức tranh đá tạc hình tháp chàm Mỹ sơn thâm u trầm mặc, một bông hồng đá hoa cương mảnh mai lấp lánh. Nhà báo Nguyễn Công Khế - khác với vẻ ồn ào hàng ngày, ông lặng lẽ đặt những kỷ vật của quê hương gởi xuống mộ Thu Bồn.

Nhà văn Nguyễn Chí Trung cầm lọ muối Sa Huỳnh nghẹn ngào nhắc lại ngày xưa đồng đội của ông chia nhau từng hạt muối khi bị giặc bủa vây trên chiến trường Tây Nguyên, đó là thứ mà ngày xưa người lính như ông quý hơn châu báu:

Sáng nay muối đến non ngàn

Tay cầm hạt muối hơn vàng cầm tay

Ông Bí thư huyện uỳ Đak Uy, nơi khơi nguồn cảm hứng cho trường ca Badan khát, gởi về một lọ nước, một nắm đất badan đỏ bầm màu máu, nặng tình và  làm nên bao chuyện ly biệt. Lọ nước được tưới lên mộ để:

Rễ cây từng giọt nước rơi

Thấy mình đang uống ánh trời bao la.

Tây Nguyên còn gởi xuống cho ông những vật dụng xuất hiện trong trường ca Bài ca Chim Chơ Rao: Một cái ná của người Mơ Nông, một cái chiêng của người ÊĐê, một miếng nhưa của cây Xà Nu...

Khi còn sống ông ào ạt yêu đời, người ta đồn có nhiều người đàn bà đi qua trái tim ông. " Ông yêu ai cũng như mới yêu lần đầu, ông làm bài thơ nào cũng như bài đầu tiên" (lời nhà văn Nguyễn Đức Thọ).

Khi ông mất, bên thi hài ông và bên mộ ông có hai ngừơi đàn bà, người đầu tiên và người cuối cùng, họ buồn, họ khóc nhiều và họ yêu ông bằng tình yêu không năm tháng. Bà Thu, người vợ đầu, kể trước mộ ông rằng, hơn bốn mươi năm nay, bà vẫn yêu ông. Trong tái tim bà hình ảnh của ông vẫn sừng sững như ngày ông lao xuống dòng sông Tang để cứu bà khỏi cơn cuồng nộ của thuỷ thần. Trước mộ ông, bà đã thảng thốt kêu lên: Anh là gió làm sao em bắt được. Bà gởi xuống cho ông xâu chuỗi, để ông tịnh tâm trong cõi vô minh.

Lý Bạch Huệ, người đàn bà cuối cùng trong đời, từng dỗ dành chăm cho ông từng muỗng cháo, bồng lên đỡ xuống những ngày ông nằm trên giường bệnh, hiểu được trài tim thơ trẻ của ông, hiểu được sự ngơ ngác của ông trong cõi trần, nhẹ nhàng đặt cuộn chỉ trên mộ ông như lời thơ:

Tôi là sợ chỉ không kim

Luồn vô năm tháng, trái tim rối bời.

Trước hai người đàn bà ông hết mực yêu thương, nhà thơ Nguyễn Duy gởi xuống cho ông tập thơ vợ ơi của chính mình.

Trên phiến đá màu đen, nét chữ run rẫy của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Sinh viên Sài Gòn từng đi biểu tình chống Mỹ với câu thơ của Thu Bồn:

Cho con núi rộng sông dài

Cho con lưỡi kiếm đã mài ngàn năm

Nhiều người bảo số của Hoàng Phủ Ngọc Tường là số khổ, ngày trước ông ngã bệnh, ngỡ rằng Thu Bồn và Trịnh Công Sơn phải khóc cho ông, nào ngờ bây giờ ông nằm khóc họ!

Nhà thơ Thanh Thảo gởi cho ông chút quê hưng Quãng Ngãi qua miếng vỏ quế Trà Bồng. Xứ Huế, nơi ra đời tuyệt tác Tạm biệt Huế gởi chiếc nón bài thơ với hai câu thơ của ông, được lồng khéo léo giữa hai hàng lá mỏng manh:

Nón rất Huế, mà đời không phải thế

Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

Quê hương Bình Định gởi cho ông viên đá cảng biển, nơi ông lên đường đi tập kết:

Chiếc hôn đầu gởi lại cảng Quy Nhơn

Cảm động nhất là tấm lòng của những người lính nời đầu sóng ngọn gió Trường Sa, những người lính biết tin nhà thơ mà họ  ngưỡng mộ từ trần, đã gởi về một linh hồn biển nằm trong chiếc vỏ ốc tuyệt đẹp.

Những đồng đội của nhà thơ Thu Bồn ở cục chính trị quân khu V chuyển xuống mộ phiến đá với câu thơ đầy khí phách trong bài Hành Phương Nam:

Bơi qua biển lửa ta về lại

Gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn

...

Bao năm gối núi đầu hoá đá

Tiếng hát từng cung Ngũ Giác Đài

Còn nhiều, nhiều lắm những kỷ vật mà bạn bè, người thân mang đến bỏ vào "cái gói nhân tình" gởi theo ông.

Lễ xong người thưa dần, nghĩa trang ngập nắng chiều, goá phụ Lý Bạch Huệ trong tang phục màu đen thẫn thờ bên mộ, bỗng nghe thì thầm:

Thôi về đi em, chợ chiều đã vãn

Nhớ mua cho anh một gói nhân tình...

Đó là câu thơ đầu trong bài thơ cuối cùng của nhà thơ Thu Bồn viết vào ngày 11.6.2003, một tuần trước khi ông mất.

(*) Tất cả những câu thơ trong bài này là thơ của nhà thơ Thu Bồn

Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.