XỨ NGƯỜI

By Nguyễn Một

 

XỨ NGƯỜI

 TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MỘT

Tôi mang cái sinh lực tràn trề của tuổi hai mươi lên đường lập nghiệp. Tôi sẽ đến một vùng đất màu mỡ. Nghe anh Nam kể xứ đó cây sắn vứt ngoài hàng rào vài tháng sau nhổ lên củ to bằng bắp chân chứ không như ở cái miền quê nghèo này trồng được củ sắn bằng ngón chân phải tốn cả gánh phân chuồng. Tôi đã chán nản tột cùng sự nghèo khổ truyền kiếp. Cậu tôi quanh năm xòe bàn chân “Giao Chỉ” bám trên những thửa ruộng khô khốc để đổi ngày hai bữa cơm độn ăn xong ợ lên rát cổ họng. Tôi ra đi. Cái tình nghĩa quê hương mà cậu tôi bỏ công giáo dục từ nhỏ chẳng hề lóe sáng trong sự mông muội của đầu óc đã tê liệt vì đói khổ. Thật ra tôi có chút xao động khi cô gái mà tôi dự định cưới làm vợ đã khóc ướt đẫm ngực áo trong đêm chia tay. Dù thế nào tôi cũng sẽ đi!

Anh Nam đi từ mười năm trước khi ấy anh mới mười tám tuổi. Chỉ vì câu nói xúc phạm đến một vị cán bộ xã bị mời lên mời xuống cả chục lần thế là anh bỏ làng ra đi một cuộc ra đi không có người tiễn đưa và lời thề hẹn. Bây giờ anh trở về xênh xang áo mão xài tiền năm chục mới cứng. Sờ nắn những bắp thịt săn chắc của tôi anh bảo :

-         Mày có dám đi theo tao không?

-         Đi

Tôi cả quyết.

Tôi đến Đồng Nai vào giữa mùa mưa. Lúc này ở quê tôi là mùa gió Lào nóng bức. Miền đất mới cuốn hút tôi bởi màu xanh ngút ngàn của cây cối những hàng cao su thẳng tấp vườn tiếp vườn trái cây đủ loại đung đưa trên cành. Tôi háo hức và hồi hộp như cái ngày đầu tiên được cắp sách đến trường làng. Lúc này tôi mới biết mười năm qua Nam làm thuê ở xứ người. Tôi kinh ngạc hỏi :

-       Anh cũng làm thuê à?

Nam cười :

-       Chứ mày tưởng tới xứ người để làm chủ hả?

Tôi nghĩ đến các cô gái đẹp ở quê tôi đều mơ ước lấy chồng Việt Kiều thì ra Việt Kiều ở nước ngoài chắc cũng lắm người làm thuê như Nam vào đây mà thôi.

Nam nói với tôi :

-       Tao xin cho mày làm chung với tao nhà ấy có đủ vàng ngọc mày đẹp trai nếu giỏi có ngày sướng.

-       Làm thuê thì cần gì đẹp trai.

Tôi bảo thế.

-       Rồi mày sẽ biết

 Chúng tôi vượt đoạn đường khá dài đất đỏ quạch dính vào dép đi chưa đầy cây số đôi dép đã nặng chình chịch như đôi giày. Bực mình tôi xách dép đất cũng không chịu buông tha cứ bám chặt vào chân rin rít thật khó chịu. Khu vườn mà chúng tôi đến ở rộng ước khoảng mười mẫu đất trồng đủ loại cây trái. Cà phê xanh mơn mởn trái nhỏ như đầu ngón tay bu đặc trên cành chôm chôm sum sê trái đóng từng chùm mấy người làm thuê cắt ném vung vãi xuống đất. Tôi rón rén bóc một trái ăn thử. Ông quản công cười khi thấy hành động rụt rè của tôi.

-       Chú cứ tha hồ ăn sợ gì? Ở xứ này ai tới vườn muốn ăn bao nhiêu thì ăn.

Chuyện này tôi có nghe Nam kể nhưng tôi tưởng anh ta nói dóc.

Mùa này có rất nhiều người làm công đàn ông đàn bà nườm nượp. Bà chủ nhìn lướt qua thân thể cường tráng của tôi và phán : “Được!”. Giọng nhẹ mà nhọn như kim sắc lạnh. Bà ta còn trẻ tay dắt con chó Nhật lông trắng như bông rất xinh con chó có mặc quần áo hẳn hoi. Tôi đoán bà chỉ độ ngoài ba mươi ấy mà so sánh với những phụ nữ ở quê tôi như chị Năm con cậu tôi mới ngoài bốn mươi mà đã quắt quéo khô róc bà chủ da dẻ còn mịn màng như con gái. Sau tôi mới biết bà đã ngoài năm mươi con người ta “ăn trắng mặc trơn” có khác!

Quả như lời Nam nói nhà bà có đủ vàng ngọc theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tên bà là Kim và hai đứa con gái Kim Ngọc và Kim Ngà hai chị em kém tôi vài tuổi vàng vòng đeo cứng cổ tay…

Công việc ở đây chẳng mùi mẽ gì so với sức lực của tôi nên tôi làm rất khỏe ở trần vác sọt chôm chôm sáu chục ký chạy vùn vụt mấy cô gái nhìn tôi nói thầm với nhau điều gì đó rồi bưng miệng cười rưng rức.

Nhà bà Kim khá rộng cánh đàn ông chỉ ở nhà kho ngay cả ông Tư Hương làm quản công gần mười năm nay cũng không được đặt chân lên thềm nhà. Hai cô con gái học hết lớp chín nghỉ ở nhà. Ông Tư Hương nói :

-       Bà ấy sợ chúng bị lường gạt tình yêu nên nhốt ở nhà từ hồi mới dậy thì.

Nam sỗ sàng hơn :

-       Nói chính xác là bà ta sợ chúng bị mất trinh.

Ông Tư Hương giải thích :

-       Bà Kim căm thù đàn ông.

-       Thế sao bà lại mướn chúng ta? – Tôi hỏi

-       Công việc cần nhưng bà ta luôn cảnh giác tối đa ngay cả con chó quí tộc bà cũng may quần áo nó mặc vì sợ nó đi tầm bậy.

Tôi cười sằng sặc khi hiểu ra lý lo bộ quần áo của con chó mà tôi gặp lúc sáng.

Ông Tư Hương vấn điếu thuốc rê rít hơi dài rồi nói :

-       Cái gì cũng có nguyên nhân của nó

Và ông kể :

Khu vườn của ông Bảy Ổi kéo dài từ dốc Tân Phong cho đến tận đường lớn trên trăm mẫu đất đỏ trồng cao su là chủ yếu riêng khu đất dọc theo con suối ông trồng cà phê và các loại cây ăn trái bao bọc căn nhà được xây cất sang trọng theo kiểu Pháp. Nghe nói tổ tiên ông Bảy có gốc gác người Hoa ở Biên Trấn mấy đời làm nghề buôn bán. Trong số đám con cháu của họ Trương có một ông yêu cô gái người dân tộc thiểu số bị gia đình cự tuyệt ông dắt vợ về vùng đất đỏ bán cao nguyên để lập nghiệp không tiếp xúc với cộng đồng người Hoa. Mấy đời sau thì mất gốc. Con cháu của họ thay nhau khai khẩn đất đai đến thời Bảy Ổi đã có gia tài đồ sộ. Kim là con gái duy nhất của ông cô thừa hưởng làn da trắng của cụ tổ ông và đôi mắt liêu trai của cụ tổ bà vì vậy cái đẹp của cô người đa tình yếu bóng vía có thể giật mình mà ngất xỉu.

Bao nhiêu tướng tá Sài Gòn thời ấy đến cầu thân nhưng Kim chỉ nhất mực đòi cưới anh học trò nghèo trốn quân địch vào làm công cho nhà cô. Biết dòng máu ương bướng của cụ tổ lưu truyền trong huyết quản con gái nên ông Bảy đành chấp nhận. Thế là anh học trò làm công nghiễm nhiên trở thành ông chủ. Khi cha mẹ qua đời vợ chồng Kim thừa hưởng gia sản tưởng họ sống hạnh phúc với hai cô con gái xinh như mộng ai ngờ sau ngày giải phóng anh học trò nghèo ngày xưa bỏ ba mẹ của Kim để trốn đi nước ngoài với ả làm vườn Kim uất hận từ đó…

Câu chuyện ông Hương kể để lý giải cho hành động kỳ quặc của bà chủ không mấy hấp dẫn.

Tuy nhiên từ câu chuyện đơn giản ấy tôi suy ra : “Nếu quả thật như vậy thì bà Kim là con người cố chấp sự ra đi của ông chồng là hệ quả tất yếu có lẽ ông ta phải chịu đựng vô số những điều khổ ải do sự cố chấp của bà vợ giàu có trong thời gian chung sống”.

Mặc kệ! Tôi chỉ là kẻ làm thuê nên chẳng cần mệt óc mà suy nghĩ chuyện của họ.

Tháng đầu tiên tôi nhận được khoản tiền công gần nửa triệu. Đó là món tiền khá lớn nếu ở quê tôi phải vất vả cả năm trời mời có được. Tôi quyết định phải dành dụm. Tôi có suy nghĩ khác với Nam tôi làm việc rất nhiệt tình hai cô con gái bà chủ có vẻ mến tôi. Ngọc dịu dàng hơn luôn nhìn tôi bằng ánh mắt đằm thắm tôi phải tìm cách tránh mặt tôi sợ mất chỗ làm. Ông Tư Hương đã cảnh cáo : “Chú coi chừng đó bà chủ ghét đứa nào nhấm nháy con gái của bả”. Ngà bốc lửa hơn chị cơ thể lúc nào cũng hừng hực. Nhà có buồng tắm nhưng cô lại thích tắm suối hơn mỗi lần bà Kim đi vắng Ngà chạy ào xuống suối để nguyên quần áo vùng vẫy thỏa thích trong dòng nước mát rồi cứ thế đi lên vú mớm thây lẩy tôi nhìn thấy cả cái núm màu hồng trên bầu ngực căng tròn. Nhiều lúc đi ngang qua người tôi cô bé cố tình chạm nhẹ vào vai tôi phải cúi xuống giấu khuôn mặt đỏ bừng và kềm chế cơn đau thon thót phần cuối bụng dưới. Nhiều đêm nằm nghe con chó của bà chủ rên ư ử tôi trăn trở người bứt rứt khó chịu cứ như bị ai trói tay trói chân vậy và hễ chợp mắt là tôi thấy giấc mơ kỳ lạ. Tôi mơ tôi và Ngọc yêu nhau chúng tôi nắm tay bay là là trên các vườn cây trái đủ loại nhưng mỗi lần tôi ôm Ngọc thì trong vòng tay tôi lại xuất hiện Ngà với bộ ngực căng mẩy đang cọ xát vào người… Tôi ở nhà bà Kim hơn một năm cứ mỗi tháng tôi nhét tiền vào rương tôi không tham gia bất kỳ thú vui nào. Nhiều lần Nam lãnh lương rủ tôi đi uống bia ôm cho biết tôi thẳng thừng từ chối. Nam cười nửa miệng rồi cặp cổ Tư Hương ra thị trấn chiều về cả hai say mèm nồng nặc mùi bia và mùi son phấn.

Một ngày cuối năm tối mặt tối mũi với đống cà phê cao ngập đầu tôi xuống suối tắm rửa và gặp Ngà ở đó tôi vọt chạy như bị ma đuổi. Về đến chỗ ở thấy cái rương đã bị vặn khóa tôi lẩy bẩy mở nắp hất tung đồ đạc số tiền tôi nhét trong ngăn bí mật dưới đáy rương đã biến mất. Chỉ có tôi và Nam biết cái ngăn bí mật trong rương của tôi Nam ra thị trấn chưa về. Tôi nắm chặt hai tay lao ra cửa đi tìm Nam. Gặp anh ta ngay cổng đi vào không nói không rằng tôi tung cú đấm vào giữa mặt Nam bật ngửa máu mũi tuôn ồng ộc. Tôi gầm lên : “Tại sao anh lấy tiền tôi”. Nam đưa tay bụm mũi không trả lời. Tôi nhào tới.

-       Anh … dừng…!

Tiếng hét lạc giọng của Ngọc khiến tôi dừng lại. Ngọc chạy lại rút khăn tay lau máu cho Nam. Tôi hậm hực bỏ đi.

Về chỗ ngủ ôm mặt khóc có bàn tay mềm mại đặt nhẹ lên vai tôi : “Anh đừng buồn anh cứ cầm số tiền này đi”. Ngọc đặt cọc tiền vào tay tôi tôi chưa kịp phản ứng Ngọc đã bỏ đi. Khi tôi ngồi dậy chỉ còn lại mùi hương thoang thoảng. Nam cúi đầu lầm lũi đi vào anh rút trong túi áo cho tôi xem bức điện.

“Nam! Mẹ bệnh nặng con ráng giúp cha chữa bệnh cho mẹ”

-       Tao xin lỗi… tao kẹt quá làm liều!.

Nhìn bộ mặt thiểu não của Nam tôi mủi lòng :

-       Anh cầm lấy.

Tôi đưa cọc tiền cho Nam

Nam tròn mắt nhìn tôi :

-       Ở đâu ra vậy ?

-       Của cô Ngọc.

Tôi đáp cọc lốc rồi đứng lên đi ra ngoài vươn vai hít đầy lồng ngực luồng khí trong lành những cơn gió nhẹ mát dịu vương mùi lá mục và hương sầu riêng làm tôi thư thái hơn.

Sáng hôm sau bà Kim phát hiện ra mất năm triệu trong số tiền một trăm triệu mà chủ vựa cà phê mới giao hôm qua. Bà ra lệnh cho Tư Hương lục xét bọn người làm. Ngọc đứng sau lưng bà mặt xanh như tàu lá chuối. Nam lấm lét nhìn tôi Tư Hương phát hiện ra cọc tiền dưới chiếu nằm của tôi. Bà Kim trợn mắt rít qua kẽ răng :

-       Đồ gian xảo cút ra khỏi nhà tao!

Tôi lẳng lặng xách giỏ ra đi tôi thấy Ngọc khóc. Nam chạy theo tôi vài bước rồi ngập ngừng quay lại…

Chuyện tôi ăn cắp tiền của bà Kim bị phát hiện nhanh chóng lan khắp vùng khiến các chủ vườn đuổi tôi như đuổi tà khi tôi đến xin việc. Quyết không về lại quê nhà khi không có đồng bạc lận lưng. Tôi mò lên Biên Hòa làm phụ hồ công việc khá vất vả nhưng sống được. Suốt ngày phơi lưng ngoài nắng đêm về rúc trong lán trại che tạm nóng bức nồng nặc mùi vôi vữa. Những giấc mơ ngày trước lại hiện về “Tôi yêu Ngọc và ôm Ngà”. Có điều giấc mơ càng lúc càng tồi tệ tôi thấy tôi táo bạo hơn mỗi khi giật mình người lại cứ râm ran những cơn thèm khát…!

Ít lâu sau Nam đi tìm tôi để trả lại số tiền mà anh đã lấy của tôi. Gặp tôi bên công trường Nam ôm tôi thân thiết tôi cũng mừng. Thế mới biết ở xứ lạ gặp người quen quí biết chừng nào. Nam kể cho tôi nghe : “Mày đi được ít tháng thì “cái quần trinh tiết” của bà Kim mặc cho con chó bị lũ chó đực xé nát và làm hư hỏng nó cùng ngày ấy con Ngà bỏ nhà theo một thằng người làm bà Kim uất ức bị lên cơn nhồi máu cơ tim mà chết. Hiện con ngọc đang làm chủ cơ ngơi ấy nó buồn bã từ chối mấy đám nhà giàu lân la. Nó yêu mày nó bảo tao đi tìm mày”. Tôi cười nhìn những tờ bạc trên tay mà Nam vừa trao cho.

Sau lần gặp Nam ước muốn trở về gặp Ngọc để được làm ông chủ khu vườn mỗi lúc một mãnh liệt hơn tôi đau khổ nhận ra cái dục vọng đớn hèn ấy cứ lớn dần mãi lên.

Đêm nay lại thao thức với nỗi khát khao sự giàu có dễ dàng mà Nam đã gợi ý tôi nằm úp mặt trên gối để xoa dịu bằng cách hồi tưởng lại tuổi thơ nhọc nhằn với những tháng ngày chăn trâu bắt ốc trên đồng ruộng quê nhà. Tôi cố nhớ những bài học luân lý “Đói cho sạch rách cho thơm” của cậu tôi giảng dạy trong những lúc hai cậu cháu lang thang kiếm củi trong rừng. Nhưng rồi tất cả nhanh chóng bị hình ảnh mượt mà của Ngọc với hàng đống cà phê trái cây cao nghễu nghện xóa đi… Không chịu nổi tôi vùng dậy leo lên giàn giáo hướng mắt về phía con sông Đồng Nai. Những cơn gió dịu dàng thổi lên từ mặt sông mát rượi và chính lúc ấy bất chợt tôi nhớ những giọt nước mắt nóng hổi của người con gái quê nhà. Tôi khẽ rùng mình bởi vì đây là lần đầu tiên tôi nhớ nàng sau ba năm bôn tẩu xứ người.

More...

Kính gởi ông Bùi Công Thuấn

By Nguyễn Một

NGUYỄN MỘT KÍNH GỞI ÔNG BÙI CÔNG THUẤN CÙNG BẠN ĐỌC TRANNHUONG.COM

Kính gởi ông Bùi Công Thuấn

Thật buồn khi phải nhờ nhà văn Trần Nhương gởi những dòng này đến ông bởi chúng ta cùng ở Long Khánh Đồng Nai và cũng biết nhau hơn hai mươi năm.  Ngày ấy tôi nhỏ chưa biết viết văn là gì còn ông là thầy giáo nổi tiếng của phố huyện vì vậy khi tiểu thuyết “đất trời vần vũ” của tôi ra đời ông đã viết bài phê bình khá dài khiến tôi vô cùng cảm động cảm động không phải vì nội dung bài viết mà vì  ông đã đọc một cuốn tiểu thuyết dày 340 trang của kẻ hậu bối như tôi. Sau bài viết ấy tôi đã có lời cám ơn đến ông. Đọc những bài viết của ông một người bạn gọi điện bảo tôi: “ Có lẽ ông Thuấn ghét gì cậu hay sao mà tất cả các tác giả ở Đồng Nai ông đều khen chỉ trừ cậu hình như đụng đến cậu là ổng chê” Tôi cười mượn câu của người xưa để trả lời bạn: “Kẻ chê ta là thầy ta”. Hôm nay tôi viết dòng này hoàn toàn không nhằm tranh luận gì về tác phẩm mà bởi trong bài viết “ dị hương kiếm sắc và…” của ông đăng trên trannhuong.com ông lại kết tội “đất trời vần vũ” sao chép “lời nguyền hai trăm năm” khi ông kết tôi “sao chép” thì không thuần túy phê bình mà là vấn đề nhân cách. Với tội này thì tôi phải hầu tòa nếu nhà văn Khôi Vũ khởi kiện và tôi phải bẻ bút vì không còn xứng đáng để sáng tác.  Vì vậy tôi buộc lòng nhờ bác Trần Nhương đăng lại nhận xét của nhà văn Khôi Vũ người mà ông cho tôi đã “sao chép” để bạn đọc hiểu rõ:

Đoạn sau đây “sao chép” blog của nhà văn Khôi Vũ:

“Chúc mừng nhà văn Nguyễn Một được giải cuộc thi tiểu thuyết

Viết bởi khoivudongnai 15:22 | Đường dẫn cố định | góp ý (0) | Trackbacks (0) | Edit | TẢN MẠN BÊN BỜ SÔNG PHỐ

Nhà văn Nguyễn Một vừa điện thoại cho tôi báo tin cuốn tiểu thuyết Đất trời vần vũ của anh đã được giải C cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3 của Hội Nhà văn VN. Anh nói: "Anh Văn Công Hùng báo cho em biết tin và người đầu tiên em báo lại tin này là anh". Tôi chúc mừng Nguyễn Một và đòi... nhậu (Nói thế thôi chứ tôi đã có dấu hiệu bị bệnh gút thì còn nhậu nỗi gì!).
Thế là cái tỉnh Đồng Nai "khoai củ" (cách gọi của nhà văn Hoàng Văn Bổn) của chúng tôi lại có thêm một người viết văn được ghi nhận về năng lực viết tiểu thuyết.
Nhớ hồi cuốn Đất trời vần vũ của Nguyễn Một vừa mới ra đã có bài khen chê ì xèo. Một vài người viết ĐN "không ưa" Nguyễn Một đã rêu rao là "Sách của Nguyễn Một đang bị đánh tơi tả". "Nguyễn Một viết có vấn đề". Những dư luận như thế đã khiến tạp chí VNĐN phải "chùn tay" chỉ giới thiệu sách mới chứ không đăng bài viết nào về cuốn Đất trời vần vũ của tác giả tỉnh mình. Lại có nhận định về chuyên môn là cuốn tiểu thuyết này Nguyễn Một có "bắt chước" kiểu viết của tôi trong "Lời nguyền 200 năm". Lúc ấy tôi đã nói với Nguyễn Một: "Giống sao được. Mà giống thì đã sao! Chỉ là bút pháp. Nội dung tư tưởng chẳng dính gì với nhau là được rồi". Khi có tin Đất trời vần vũ vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết thì dư luận ở địa phương mới lắng xuống dù cho đến tận sau Đại hội Hội nhà văn hồi tháng 8 vừa qua nhà thơ Hữu Thỉnh gặp tôi còn phải hỏi: "Ở ĐN cuốn ĐTVV có bị gì không?". Chắc là có những thông tin gì đó về cuốn sách từ ĐN đến tai anh.
Dù sao thì bây giờ trong Nguyễn Một tôi chắc là đang tràn ngập niềm vui. Anh báo tin cho tôi là "người đầu tiên" có lẽ vì tôi có nhiều kỷ niệm với anh từ hồi anh còn là giáo viên ở Long Khánh mới tập tành viết văn làm thơ. Tôi thì vừa chung vui với anh vừa vui riêng một niềm vui đã nhìn ra được một người viết như Nguyễn Một từ những trang viết sớm của anh.
Khôi Vũ”

http://khoivudongnai.vnweblogs.com/post/2228/269145

Xin chúc ông dồi dào sức khỏe để tiếp tục phê bình và sáng tác.

Hậu bối Nguyễn Một kính bút

P/S Vì tôi không dành nhiều thời gian cho những việc ngoài sáng tác và kiếm sống nên sau thư này dù thế nào thì cũng xin phép không tiếp tục  làm  phiền nhà văn Trần Nhương

More...

TRANG WEB HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM PHÊ BÌNH ĐẤT TRỜI VẦN VŨ

By Nguyễn Một

Sự "vần vũ" của định mệnh
Cập nhật: 11:28:00 8/2/2011
Tiểu thuyết "Đất trời vần vũ" - Giải C Cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2006-2009 VanVn.Net - Nhiều tác giả Việt đã từng nói "tiểu thuyết là máy cái của nền văn học". Hẳn là vậy! Ở Việt Nam đã có những cây bút rất nổi tiếng về truyện ngắn nhưng chỉ vừa leo lên xới tiểu thuyết họ liền thua trận bởi lẽ cái gân cốt nhược tiểu lèo tèo của một cơ địa phong thủy đất bùn tiểu nông không thể vượt lên thành một lâu đài đứng sừng sững trên cao nguyên được...

 

Chính thế mà bât cứ tiểu thuyết nào chào đời xã hội cũng thấy một điều gì khá hệ trọng cho dù có thể nó chưa hay nhưng người ta buộc phải tỏ thái độ trọng thị nhất định về hình thức lao động của nó. Một lần tôi có nói chuyện với vài nhà văn rằng: Bài thơ là việc của một buổi tối truyện ngắn là việc của một tuần kịch là việc của một tháng còn tiểu thuyết là việc của một một năm hoặc lâu hơn nữa. Như vậy rõ ràng bạn đọc nếu có bày tỏ tình cảm trọng thị với một cuốn tiểu thuyết về mặt lao động là lẽ đương nhiên. Vì lao động của một năm với tiểu thuyết khác xa với lao động một tối của bài thơ.

Lần đầu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Một ở một nhà hàng tranh tối tranh sáng anh được giới thiệu như một người tham gia công việc kinh doanh khá thành công (Giám đốc truyền thông cho công ty ô tô Trường Hải một công ty sản xuất xe tư nhân lớn hàng đầu Việt nam). Tôi được nghe giới thiệu về một anh chàng đen đúa trong ánh đèn chập chờn còn viết văn và là nhà văn nữa. Ừ tôi cứ xếp sang bên cạnh ở trong đầu với một suy nghĩ lướt qua bâng quơ rằng giầu liệu có trăn trở được với văn chương không? Chúng tôi có ghi điện thoại của nhau nhưng rồi tôi cũng quên đi!

Nhưng vài tháng sau nhà văn Sương Nguyệt Minh có hẹn tôi tới cuộc gặp mặt ra mắt cuốn tiểu thuyết "Đất trời vần vũ"của Nguyễn Một. Cái tên của cuốn sách khiến tôi giật mình. Và tôi cũng giật mình luôn về độ dày tương xứng của nó 340 trang như thế thật xứng đôi vừa lứa với đề tài mà tác giả muốn thông điệp.

Tôi đem về đọc lùi lũi như một bổn phận bởi qua tiếp xúc lần hai tôi đã thấy được con người Nguyễn Một chơi được đa phức có độ trầm tĩnh tư duy của người phương Bắc có sự phóng túng cởi mở hết mình của người phương Nam. Đó không phải vốn tu tập văn hóa mà thành mà chính là bản tính mang trong dòng máu của anh. Anh sinh ở Quảng Nam một vùng đất có tất cả tính ưu việt của phong thổ có núi hùng vĩ để dựa lưng có cảng biển để mở rộng tầm nhìn và gửi đi những cuộc phiêu lưu của đại dương có sông nước xanh trong còn mang đậm sương gió u hoài từ phương Bắc gợi cho người ta không thể nào thoát khỏi môi trường của suy tưởng... và Nguyễn Một tiếp tục di cư vào Nam theo dòng chảy của những con sông và ở đó anh trở thành một công dân Nam Bộ được tắm trong nắng dàn trải vô biên gió dàn dạt mênh mang và những con sông luôn phá tung mọi bến bờ để khao khát trở thành thế giới thuần khiết của nước...

Đó không chỉ là cuộc hành trình tạo ra con người mang bản tính đa phức mà chính đó cũng là cuộc hành trình cho cuốn tiểu thuyết "Đất trời vần vũ" của anh. Cuốn sách muốn làm "sống lại" làm sống lại một cách thực sự sinh động chứ không phải bằng bút pháp kể chuyện hay tường thuật để làm người nghe phải thưởng thức món ăn ở thì "Đã" hay ngày xửa ngày xưa mà bằng một bút pháp duyên dáng lung linh hiện thực ảo phá biên thời gian đan xen thời đại hòa thanh những cung bậc của năm tháng cũ và mới trộn mầu lên tấm toan niên đại của lịch sử Nguyễn Một đã muốn dựng lên cuộc hành trình mở đất về phương Nam Nam Bộ rồi còn biểu tượng cả về một nước Nam vẫn nằm cuối dãy Hymalaya...

Càng đọc tôi càng thấy bút pháp của Nguyễn Một rất chững chạc tự tin tìm tòi thành thạo run rẩy đi tìm cái mới anh viết như thể mỗi dòng mỗi trang đều là những cuộc hò hẹn đầu tiên của một chàng trai mới lớn đi tới chỗ gặp người yêu. Những chỉ có điều chàng trai đó không đi bộ là công dân của thế giới hiện đại anh đi trên một chiếc xe đời mới có cả hệ thống dẫn đường bằng vệ tinh với một tay lái rất thành thạo và sành điệu. Được ít trang tôi liền mở trang cuối để tìm hiểu về tác giả này. Hóa ra những gì anh đang thể hiện trong bút pháp không hề ngẫu nhiên và cầu may một chút nào. Tác giả đã từng lĩnh nhiều giải thưởng văn học của Đồng nai và báo Trung ương nhưng đặt biệt anh đã hai lần lĩnh giải thưởng của tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn tặng thưởng truyện ngắn hay với truyện "Trước mặt là dòng sông" tháng năm 2002 và "Kẻ vô học" tháng 11 năm 2002...

Ngòi bút của Nguyễn Một rất phóng khoáng dào dạt nhưng cũng đầy chú mục khi muốn tạo điểm nhấn cho ngôn từ. Ta thử nghe anh tả cảnh:

"Buổi chiều nắng dát vàng những bụi dừa và hàng dứa dại ven sông buổi chiều rực rỡ trên cánh đồng lúa chín buổi chiều ngút ngàn gió mang mùi thơm đồng ruộng tràn ngập trên những mái tranh quê mộng mị dưới làn khói bếp mỏng manh. Buổi chiều bị xé toang bằng tiếng gầm rú của trực thăng của xe bọc thép của đoàn quân rằn ri súng ống đầy mình cánh đồng dập nát dưới những gót giầy đinh".

Sở trường mạnh nhất của thi ca là tính triết lý trực tiếp cái mà không một môn nghệ thuật nào làm được. Với tiểu thuyết là máy cái của nền văn học càng không thể không có triết lý và Nguyễn Một đã không bỏ lỡ tính sở trường của thi ca khi mang ý thức thường trực đưa triết lý cũng là tính tư tưởng vào tác phẩm. Từ một chuyện mua bán bình thường khi phủi đít đứng dậy của Bảy Tánh mà tác giả cũng rút ra triết lý cuộc đời:

"Những người nông dân sợ y ( Bảy Tánh) không mua sẽ phải chở qua sông để bán chở về thành phố cái nơi mà họ khinh bỉ bởi sự phồn vinh của nó. Sự phồn vinh làm nổi rõ hơn sự nghèo khổ của họ".

Và:  "Con người phì nhiêu về thể xác và mục ruỗng trí tuệ bởi những dục vọng".

Tiểu thuyết cần nhất là bố cục đó là thứ kèo cột để gắn kết cả tác phẩm lại trong một khung sườn . Tiểu thuyết "Đất trời vần vũ" miêu tả một cuộc di dân xa xôi và đồ sộ của một dòng họ đi từ Tây Tạng xuống rồi sự kết hợp với người bản địa phương Nam rồi cuộc dàn ngang thế trận của người Chân Lạp và cho đến thời hiện đại là cuộc chiến tranh chống ngoại xâm sau là cuộc nội chiến Bắc - Nam tất cả những sự kiện dầy đặc đó đã được Nguyễn Một xử lý rất mạch lạc và tài tình. Anh viết theo một bút pháp cấu trúc cứng - mềm rất rõ ràng và nhất quán. Bút pháp cứng đó là cấu trúc của những cuộc nhập cư và vận động di cư. Bút pháp mềm là một hiện thực ảo các nhân vật xuất hiện hư hư thực thực đi xuyên qua cả thực tại lao đến thế giới song song ở đó không phân chia nổi đâu là thể xác đâu là linh hồn đâu là vật chất đâu là siêu hình.

Tiểu thuyết bắt đầu từ một nhà thơ tên Miên Trường đi theo tiếng gọi của vô thức tìm đến một người yêu của kiếp trước giờ đang mở quán cà phê bên dòng sông tên là Lụa. Nhà thơ đã xuất hiện như một nhân chứng lãng mạn của lịch sử anh đến không chỉ để ghi chép mà còn chứng nghiệm hơn thế còn sống để hít thở mầu sắc mênh mông dạt dào của một phương Nam đầy ắp nước và gió. Mảnh đất có tên là cù lao Dao nó mầu mỡ sung túc và đẹp như một huyền thoại nhưng cũng là một nơi định mệnh đầy tranh chấp giết chóc và tội lỗi. Tác giả viết:

"Không ngờ khi lưỡi dao vừa ném xuống đất rùng rùng chuyển động và hiện lên doi đất hình lưỡi dao tách dòng sông làm đôi đó chính là cù lao Dao. Mới đó mà ngàn năm trôi qua con dao trở lại trần gian nó nằm trong phiến đá mà phụ thân của thiếp đã tạc ra con sư tử này đây. Vì lưỡi dao được rèn trong máu của một ngàn trinh nữ nên tảng đá bao quanh nó chỉ mềm khi có máu của trinh nữ thấm vào".

Bị định mệnh của lưỡi dao trù yểm nên mảnh đất xảy ra biết bao tai họa nhân quả nào anh em giết chóc đồng đội hãm hại nhau nào vượt biên không còn gì ăn phải ăn thịt nhau rồi bị quả báo. Xuyên suốt bi kịch lớn là nhân vật Tư Ngồng thanh toán đồng đội ruồng rẫy vợ nhốt con vì mắc chứng điên do chất độc màu da cam... Cuối cùng Tư Ngồng đã cầm chính con dao của định mệnh muốn giết chết cô bồ tên Diễm là gái ca ve mua về khi trông thấy cô bỏ hắn để chạy theo tiếng gọi của trái tim tình yêu anh tên Phong. Nhưng lưỡi dao đó dường như đã chán sứ mệnh hằn thù của nó cũng như tính người trong Tư Ngồng đã trỗi dậy để sám hối vì thế mũi dao quay vào tìm đúng tim Tư Ngồng. Y chết trong sự hân hoan của sự giải thoát. Tác giả ca tụng tình yêu đã chiến thắng lưỡi dao như sau:

"Nó (lưỡi dao) có thể hủy diệt tất cả trừ tình yêu hay chính xác hơn là những người phụ nữ biết yêu. Tình yêu là một quyền lực cao hơn mọi quyền lực khác".

Cuốn sách bằng bút pháp rất ý thức và trải luyện của tác giả đã trở thành một tác phẩm khá đồ sộ và hoàn chỉnh về một chủ đề mà tác giả rất yêu mến và chú mục: sự di dân và tạo thành một vùng đất Nam Bộ. Xin chúc mừng và ngả mũ chào tác giả . còn đôi điều để nói rằng những đối thoại trực tiếp còn hơi ít khung cảnh ảo đã đưa người ta có  vẻ ra ngoài lề của những hoàn cảnh khắc nghiệt xa lạ với thực tại cái có thể tiếp cận chân lý hơn. Nhưng tôi biêt đây không phải điểm yếu của tác giả bởi vì có vẻ anh rất cố ý khi lựa chọn cách viết tế nhị cho đề tài khúc khuỷu gay cấn của mình. Dù sao ý kiến của tôi mới chỉ đại diện cho tôi mong bạn đọc hãy đọc và tìm ra những gì bất cập của tác giả.

Cuối cùng một lần nữa xin chúc mừng tiểu thuyết gia Nguyễn Một đã viết ra một cuốn sách khá rõ ràng là được sản xuất từ máy cái chứ không phải một ngòi bút tiểu thủ công sinh ra từ tre nứa.


Nguyễn Hoàng Đức

More...

Bỗng thấy mình có lỗi

By Nguyễn Một

 

BỖNG THẤY MÌNH CÓ LỖI

Nguyễn Một

Trong trí nhớ của mình con đường từ giếng lạn trước nhà men theo lũy tre chạy ra bờ sông dài hun hút mải mê vùng vẫy trên dòng trong xanh cho đến khi mặt trời khuất sau đỉnh Hòn Đền mới mãi miết chạy về trong tiếng réo gọi thất thanh của bà ngoại chạy mãi chạy mãi vẫn chưa tới nhà ôi sao con đường xa thế! Con đường để lại bao kỷ niệm thơ ấu con đường trở thành một trong những hình ảnh cần thiết trong "chiếc ba lô" tâm hồn trong suốt mấy chục năm lưu lạc. Mỗi lần lục lọi lại trong ký ức của những đêm mất ngũ thì con đường lại hiện về trước tiên xa thăm thẳm dài hun hút rưng rưng! Mấy mươi năm trở lại quê nhà mới mấy bước đi con đường đã hết. Sao thế lớn rồi chăng? bước chân dài hơn chăng? hay con đường ngắn lại. Không vẫn vậy bao nhiêu năm vật đổi sao dời hàng tre đã trơ trụi bờ sông lở lói bởi sự tàn phá của lòng tham. Nhưng con đường vẫn vậy vẫn dãi gió dầm sương đỡ bước con người vùng vẫy trong ký ức với những hình ảnh không bao giờ phai. Rời quê trên con đường cũ lòng buồn rười rượi. Nhưng khi xa quê con đường thơ ấu lại hiện về vẫn bắt đầu từ cái giếng lạn trước nhà men theo lũy tre  chạy ra dòng sông xanh thẳm. Đêm qua lại mất ngũ lôi đống sách cũ ra đọc cầm tập truyện ngắn: "Tha Hương" trên tay cuốn sách đầu tiên của đời văn hơn trăm trang mà nghĩa tình nặng nhưng gánh thóc đầy thấy rưng rưng như mỗi khi nhớ lại con đường tuổi thơ. Ngày đó còn dạy học nhà văn Khôi Vũ giúp đỡ biên tập cuốn sách đã lâu nhưng phải chờ mấy con heo của bà xã lớn lên. Bán heo được vài triệu bạc vào thời điểm năm 1996 lớn lắm. Dù biết sự nghiệp văn chương vốn bèo bọt và xa xỉ trong thời kim tiền nhưng chiều chồng vợ rứt ruột đưa tiền. Nhà văn Khôi Vũ báo tin: Đã biên tập xong- mất ngũ. Đã trình bày xong - mất ngũ. Đã có giấy phép xuất bản của nhà xuất bản Đồng Nai - mất ngũ. Ôi cái nhà xuất bản đã từng xuất bản sách của những tên tuổi lừng lững: Hoàng Văn Bổn Lý Văn Sâm Bảo Ninh Khôi Vũ Nguyễn Đức Thọ... mà lại cấp phép cho anh giáo làng sao mà ngũ được. Đêm lay vợ dậy: Ngày mai bán heo nghen em? Vợ làu bàu: " Bán thì bán để người ta ngũ". Mười lăm năm trôi qua rồi in hàng chục đầu sách ở nhiều nhà xuất bản khác nhau. Đôi khi nhớ lại cuốn sách đầu tay nhớ con đường tuổi thơ bỗng thấy mình có lỗi!

More...

Tiểu thuyết "đất trời vần vũ" giải thưởng Hội Nhà Văn

By Nguyễn Một

 

KẾT QUẢ CUỘC THI TIỂU THUYẾT HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Ngày 10 tháng 12 năm 2010 Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhà thơ Hữu Thỉnh đã ký Thông báo của BCH Hội Nhà văn Việt Nam nguyên văn như sau:Trong thời hạn tổ chức cuộc thi Ban Tổ chức đã nhận được 247 tác phẩm của 245 tác giả tham dự. Hội đồng Sơ khảo đã tiến hành bình chọn 51 tác phẩm vào chung khảo. Căn cứ đề nghị của Hội đồng Chung khảo sau nhiều ngày làm việc tại phiên họp ngày 10 tháng 12 năm 2010 Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam đã quyết định trao giải thưởng cho các tác phẩm sau đây:
GIẢI A: - Tác phẩm Hội thề của Nguyễn Quang Thân
GIẢI B:
1. Tác phẩm Chân trời mùa hạ của Hữu Phương
2. Tác phẩm Vùng lõm của Nguyễn Quang Hà
3. Tác phẩm Quyên của Nguyễn Văn Thọ
GIẢI C:
1. Tác phẩm Lửa đắng của Nguyễn Bắc Sơn
2. Tác phẩm Heo may về (Gió chuyển mùa) của Đỗ Thị Hiền Hoà
3. Tác phẩm Xiêng khoảng mù sương của Bùi Bình Thi
4. Tác phẩm Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn
5. Tác phẩm Biết đâu địa ngục thiên đàng của Nguyễn Khắc Phê
6. Tác phẩm Xuân từ chiều của YBan
7. Tác phẩm Đêm Sài Gòn không ngủ của Trầm Hương
8. Tác phẩm Thức giấc của Thuỳ Dương
9. Tác phẩm Đất trời vần vũ của Nguyễn Một
10. Tác phẩm Những cánh hoa lòng (Dòng sông chết) của Thiên Sơn

More...

VŨ ĐIỆU TRÊN ĐỈNH KUNG PÔ

By Nguyễn Một

 

VŨ ĐIỆU TRÊN ĐỈNH KUNG PÔ
Truyện ngắn Nguyễn Một

Ngọn Kung Pô cao chót vót thế mà lão Hạp đã nhiều lần leo lên tới đỉnh. Bên trái ngọn núi có con đường mòn dốc thoải hơn chỗ khác. Đá chồng từng lớp như một bãi trứng vài bụi le cố lách mình qua các khe đá chòi lên run rẩy. Cây rừng đã bị chặt gần hết chỉ còn mỗi gốc đa hai chân chơi vơi giữa đỉnh núi từ xa nhìn như một người đàn ông đứng chạng chân ngửa mặt lên trời. Lão Hạp đến được bên gốc cây đa vào tầm bốn giờ chiều. Nắng còn gay gắt lắm mồ hôi chảy như tắm ướt đẫm thân hình đen sạm cái khố nâu dính chặt vào người. Lão thở hắt phóng mắt nhìn xuống chân núi. Nắng vàng trùm lên  khu rừng tràm và cánh đồng tất cả trở nên xa tít tắp.

Tại sao lão Điểu Hạp lại lên đây nhỉ? Điều này thì những người dân ở buôn Gô Cha biết rõ. Hàng năm trước ngày lễ cúng Nhang lão lại lặn lội lên đỉnh núi để giao thoa với thần linh và xin một lễ cúng Nhang cho dân làng. Những người Châu Ro dưới chân núi kính trọng lão như vị thầy họ kính cẩn gọi lão là ông Kô (ông trưởng làng).

Tôi quý lão Điểu Hạp bởi lão đã giúp tôi khỏi phải bỏ mất cả tháng giặt quần áo cho người sanh nở như bạn bè tôi. Khi còn dạy học ở buôn Gô Cha tôi thường lân la đến nhà dân làng để chơi. Tôi thấy các thiếu phụ ở đây thường chỉ nằm ổ độ ba ngày thì địu con lên nương và ra suối tắm. Tôi tò mò hỏi họ nghi ngại nhìn tôi và bảo : "Đi mà hỏi ông Kô". Tôi nhiều lần được ngồi uống rượu cần với lão Hạp nhưng cứ quên bẵng chuyện ấy nên không hỏi. Sau này tôi chuyển về dạy ở vùng xuôi lấy vợ. Lúc sắp sanh nàng dạy tôi giặt quần áo nàng nói :

•-       Anh phải vò bằng tay như thế này chứ không được tống cả vào thau rồi leo lên đạp bằng chân như hồi còn độc thân.

Tôi tròn mắt vặc lại :

•-       Tại sao anh phải giặt hồi cưới nhau mình đã thỏa thuận rồi kia mà.

Nàng gí ngón tay xanh xao vào trán tôi mắng yêu :

•-       Đồ ngốc. Anh chỉ giỏi "hành" người ta thôi.

Rồi cầm bàn tay tôi đặt lên bụng mình nàng hỏi :

•-       Cái này là của ai ?

•-       Tất nhiên là của anh.

Nàng cười :

•-       Thế thì phải "hè đẩu" hiểu chưa?

"À". Tôi thốt lên và tái mặt khi nghĩ đến đống tã lót và quần áo dơ bẩn trẻ con. Trong lúc ấy tôi chợt nhớ lão Điểu Hạp đây là lần đầu tôi nhớ đến lão từ lúc xa buôn Gô Cha đến nay.

Sáng hôm sau tôi lên đường về chốn cũ tìm lão Hạp để cầu cứu và lần ấy lão đã để lại trong tôi một ấn tượng không bao giờ quên. Lão vồ lấy tôi như con mèo rừng và mắng "Mày rõ là cái đồ bạc tình". Nói vậy thôi chứ lão vẫn quý tôi như ngày xưa. Lão bày rượu cần và thịt nai khô ân cần đãi tôi. Nghe tôi trình bày lão gật gù lẩm bẩm : "Giơ-ru-Grô". Giơ-ru-Grô là bài thuốc bí truyền của dân tộc Châu Ro dành cho phụ nữ uống khi sanh. Cả buôn làng này chỉ còn mình lão biết tìm lá cây để bào chế "Giơ-ru-Grô". Nhấc cái tẩu ra khỏi chòm râu lão bảo tôi :

•-       Ngày mai thầy giáo có đủ sức thì đi theo tao.

•-       Sẵn sàng tôi đáp.

Chuyến đi đã giúp tôi may mắn chứng kiến một bức tranh đẹp và huyền bí giữa thiên nhiên hùng vĩ trên đỉnh Kung Pô.

Tôi vừa đi vừa tìm những lá cỏ theo hướng dẫn của lão Hạp. Đến tối chúng tôi lên tới đỉnh. Tôi nói với lão Hạp :

•-       Ở đây trăng sáng như ban ngày

Lão Hạp bảo :

•-       Gần trời hơn.

Nghỉ ngơi một lát lão đi về phía hang đá gạt cành cây che miệng hang lấy ra sáu cái chiêng từ nhỏ đến lớn. đặt cái chiêng nhỏ nhất bên cạnh gốc đa số còn lại lão lần lượt treo lên các cành cây xung quanh đó. Lão làm công việc ấy một cách nhẹ nhàng như thể những cái chiêng được đúc bằng thủy tinh. Đến khi mặt trăng lên đến đỉnh núi lão khoát tay bảo tôi lui ra và trịnh trọng bày lễ vật gồm những ống nứa đựng gạo một con gà trên tảng đá dưới gốc. Tôi chăm chú quan sát hành động của lão Hạp và khẽ rùng mình. Trong bàng bạc của ánh trăng giữa núi rừng cô tịch cái bóng to lớn của lão in sừng sững lên nền trời giống như vị thần trong chuyện cổ tích.

Lão Hạp rùng mình khụy hai gối xuống tay trái đưa chiêng ra trước mặt tay phải nắm lại và đấm nhẹ vào chỗ gồ lên chính giữa. Tiếng chiêng ngân nga nhẹ nhàng vọng vào vách núi tạo nên chuỗi âm thanh u...u rất du dương mê lịm. Lão bắt đầu nhảy hai chân nhún theo nhịp chiêng. Lão lần lượt đấm vào tất cả những quả chiêng được treo trên cành. Một bản hòa tấu rộn rã cả núi rừng. Tôi trố mắt và mụ người giữa hình ảnh chập chờn của lão Hạp và những âm thanh hoang dã man dại phát ra từ bàn tay của lão. Quả thật tôi đã từng biết về lễ hội cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên nhưng tôi chưa bao giờ chứng kiến một buổi lễ chỉ có một người mà lại sử dụng được cả một bộ chiêng như thế này. Còn nhớ trước đây có lần tôi hỏi về lễ hội cồng chiêng của người Châu Ro lão Hạp lắc đầu buồn bã. Lão chỉ cho tôi xem những chàng trai những cô gái trong buôn mặt quần jean áo thun. Lão bảo : "Bây giờ chúng nó thế cả còn đứa nào biết đánh chiêng còn những người già thì đã chết cả ở trong đồn điền Cuốc Tơ - nây".

Tiếng chiêng càng lúc càng hùng tráng đôi chân lão Hạp nhún càng lúc càng nhanh thoáng chỗ này thoáng chỗ kia khi đến mõm đá chìa ra bờ vực lão búng hai chân lên cao và xòe ra khi đáp xuống như đại bàng hạ cánh. Trong niềm phấn khích tột cùng lão ngửa mặt lên Trời và gọi lớn :

•-       Ơ... Trô! Ơ... Trô!

Lão gọi trời bằng tiếng mẹ đẻ và tiếp đó là một bài hát cầu xin cũng bằng tiếng Châu Ro.

Vũ điều kết thúc lúc trăng ngả về phía vực thẳm mồ hôi ướt đẫm cả người nhưng lão Hạp không hề tỏ ra mệt mỏi. Thu dọn bộ chiêng cất vào hang đá chúng tôi xuống núi lão đi như bay khiến tôi chạy bở hơi tai.

Tôi trở về mang theo ba gói Giơ-ru-Giô do chính lão Hạp bào chế và những hình ảnh tuyệt đẹp về buổi hành lễ kỳ lạ trên đỉnh núi.

Thuyết phục mãi vợ tôi mới chịu uống thuốc của lão Hạp. Cô ấy không ngờ những gói thuốc của ông già Thượng lại thần diệu đến vậy chỉ một tuần sau khi sanh vợ tôi ngồi dậy và làm việc như chưa có lần "vượt cạn" khổ sở ấy. Còn tôi thoát nạn "hè đẩu". Thật muôn vàn cám ơn lão Hạp!

Cố gắng lắm lão Hạp mới leo lên được đỉnh núi không phải Điểu Hạp đã già mà lần này lên núi lão cõng trên lưng mình nổi buồn nặng như tảng đá. Lão bần thần nhìn vào cái hang trống hốc. Chỗ cất bộ chiêng bây giờ cây dương xỉ mọc kín. Bọn dơi móc chân vào vách núi và ỉa đầy nền đá. Lão ngồi như thế cho đến lúc mặt trăng lên cao lão lại bày lễ vật dưới gốc đa già đưa hai tay lên trời như bắt đầu nghỉ lễ. Bỗng dưng lão nghe như có tiếng chiêng từ đâu vẳng lại lúc đầu nhỏ sau to dần và vang lên rộn rã lão bắt đầu nhún chân. Càng lúc càng say vũ điệu cuồng nhiệt đưa lão dần về mỏm đá bên bờ vực. Lão ngửa mặt lên trời : "Ơ... Trô! Ơ... Trô!" Tiếng kêu thống thiết vọng mãi xuống tận buôn làng. Cùng với tiếng kêu trời lão thực hiện động tác đại bàng của vũ điệu và bay lên bay lên mất hút vào thẳm sâu của đất trời...

Khi tôi trở lại buôn Gô Cha lần thứ hai những người dân buôn kể cho tôi nghe về sự mất tích kỳ lạ của ông Kô Điểu Hạp. Mỗi người kể mỗi khác tuy vậy ai cũng khẳng định rằng ông Kô của họ đã về với trời xanh.

Chuyện Điểu Hạp về trời có thể chỉ là huyền thoại được dân buôn thêu dệt để bày tỏ lòng kính trọng của họ với ông Kô cuối cùng trong buôn làng của người Châu Ro. Nhưng điều này thì có thật :

Đó là việc Điểu Bường con trai của ông đã lén lên đỉnh núi lấy bộ chiêng duy nhất còn lại của dòng họ đổi cho bọn lái buôn đồ cổ để lấy chiếc xe gắn máy anh ta là người thứ hai trong buôn Gô Cha có xe gắn máy.

Nghe nói bộ chiêng ấy đã được truyền lại từ nhiều đời. Qua bao lần loạn lạc từ thời Pháp thuộc đến nay lão Hạp vẫn ráng cất giữ cho đến lúc dân làng tụ tập lại định cư dưới chân núi. Biết chuyện lão Hạp đã vác chà gạc đuổi thằng con trai chạy khắp làng rồi lặn lội khắp nơi để tìm lại bộ chiêng nhưng đã muộn.

Tôi gặp Điểu Bường phóng xe qua mặt tôi anh đưa tay chào quần jean áo thun kính râm và một nụ cười xã giao rất thời thượng. Tôi ngửa mặt lên đỉnh Kung Pô chưa bao giờ tôi thấy cái cây đa hai chân lại trông giống dáng dấp của lão Hạp đến vậy và hình như tôi khẽ thốt lên: "Ơ... Trô!..."

More...

Đất trời vần vũ

By Nguyễn Một

Nguyễn Một – tác giả Đất trời vần vũ nguyên phóng viên thường trú của báo Tiền Phong tại Đồng Nai (Hội Nhà văn Việt Nam). Anh đã có nhiều đầu sách viết cho thiếu nhi (bút danh Dạ Thảo Linh) và 6 đầu sách người lớn (bút danh Nguyễn Một) - trong đó có 5 tác phẩm đoạt giải chính thức. Hiện nay anh đang là Giám đốc Truyền thông của Cty CP Ô tô Trường Hải.

Đất trời vần vũ – một cái tên “lạ” nghe rất “kêu”. Ku-Toại rất thích cái tên này. "Đất trời vần vũ" - tiểu thuyết không dành cho những người thần kinh không đủ mạnh. Bạn Toại đã đọc cuốn tiểu thuyết này (đọc trang đầu và trang cuối). Sau khi cuốn "Đất trời vần vũ" có mặt trên thị trường khoảng 1 tuần cục Xuất bản đã có công văn gửi NXB Hội nhà văn (Đơn vị liên kết xuất bản cuốn "Đất trời vần vũ" với Bachvietbooks) yêu cầu tạm dừng phát hành cuốn sách này và tổ chức thẩm định nội dung để có báo cáo về Cục xuất bản trước ngày 07/04/09.Đất trời vần vũ – Tác giả: Nguyễn MộtGiá: 62.000 đồng 

 http://vn.360plus.yahoo.com/jw!LLHu6PqcFwJ2bZBJ9ffij2HjsZKeOETh/article?mid=102&fid=-1

More...

THEO DẤU TIỀN NHÂN

By Nguyễn Một

Xin giới thiệu cùng bằng hữu loạt bài đăng trên báo Thanh niển- Nguyễn Một
 

THEO DẤU TIỀN NHÂN

Nguyễn Một

Kỳ 1 HUYỀN THOẠI VỀ NGÔI CHÙA CỔ

Hành trình mở cõi của dân tộc Việt Nam là hành trình Nam tiến. Thời gian có thể làm cho sông cạn đá mòn nhưng dấu chân của cha ông để lại trên vùng đất phương Nam mênh mang sông nước này không thể xóa nhòa dù đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử.

Tại ngã ba dòng sông Đồng Nai đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa có một vùng đất đặc biệt nơi còn lưu rõ dấu chân của cha ông trên bước đường Nam tiến. Vùng đất này có tên gọi là Cù Lao Phố.        

"Con sông Đồng Nai như cặp vợ chồng thuận thảo dìu nhau vượt qua bao thác ghềnh vất vả vậy mà khi êm ả dòng sông giận dỗi tách làm đôi. Cũng may hai nhánh sông đã kịp làm hòa với nhau trước khi tan vào biển lớn. Phút giây đỏng đảnh ngắn ngủi ấy đã để lại cho đời một cù lao trù phú và màu mỡ".

Cù Lao Phố chính là nơi đây. Thành phố đầu tiên của cư dân Việt ở phương Nam.  

Ngày nay người ta hay nhắc đến Đức ông Trần Thượng Xuyên và Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh vì Trần Thượng Xuyên có công tạo nên thương cảng sầm uất trên cù lao và Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh có công định biên miền đất này vào năm 1698.

Nhưng trước khi Trần Thượng Xuyên và Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam đã có nhiều người Việt sinh sống tại đây. Họ là những người có công khai phá đất cù lao. Một trong những người có công đầu là công chúa Ngọc Vạn. Vì sứ mệnh tổ quốc giao phó phải bang giao với phương Nam công chúa Ngọc Vạn đành gạt lệ ra đi bỏ lại sau lưng hoàng cung lầu son gác tía để vào miền sông nước này. Thời gian đã xoá đi dấu vết của người. Cũng may một nhà sử học xứ Biên Hòa ông Lương Văn Lựu đã cất công sưu tầm và ghi lại vài dòng về vị công chúa đã bị lịch sử lãng quên. Trong cuốn Biên Hòa sử lược ông viết:

Theo gia phả của chúa Nguyễn được Tôn Thất Hân sưu nghi thì chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên sanh năm Quý Hợi (1563) vương tôn bà Mạc Thị Giai làm chánh hậu. Bà này sanh hạ ba lệnh nữ: công chúa Ngọc Vạn là con thứ hai. Năm 1620 Lạp Vương Chây Chét Ta II xin cầu hôn hoàng nữ nước Việt. Sãi Vương thuận gả công chúa Ngọc Vạn cho Chân Lạp. Về sau bà là Hoàng Thái Hậu. Nhân lúc tình hình Chân Lạp rắc rối nhân dân cầu cứu bà đã nhờ chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần can thiệp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân xin nhượng đất Nông Nại cho phủ chúa. Kể từ đây các cư dân Đại Việt đặt chân đến vùng "gạo trắng nước trong" dưới sự bảo trợ của bà Ngọc Vạn.

        Những người sinh sống trên đất cù lao ngày hôm nay ai là hậu duệ của đoàn người theo chân công chúa Ngọc Vạn ngày ấy? Cù Lao Phố hôm nay vẫn bình an thanh thản hiền lành và thủy chung như hàng trăm năm trước như ông lão đưa đò đã chở chúng tôi đi quanh cù lao. 

Ngày xưa mẹ ông cũng đưa đò ở bến sông này và bây giờ hết đời mình ông lại truyền cho con cháu. Những cây cầu hiện đại chẳng thể làm thay đổi thói quen trong tâm thức người Việt với hai tiếng "đò...ơi" thân thương trong hành trình mở cõi.

Ông lão đưa đò còn kể cho chúng tôi nghe câu chuyện tình kỳ lạ bên ngôi chùa cổ nhất miền Nam một câu chuyện làm chúng tôi kinh ngạc dù có thể nó chỉ là truyền thuyết.

Thiền sư Liễu Đạt Thiệt Thành (không rõ năm sinh) là nhà sư đầu tiên ở miền Nam được phong quốc sư. Với kiến thức Phật học uyên bác ông được vời về kinh để giảng dạy cho hoàng tộc. Tại kinh đô bà cô ruột của vua Minh Mạng thọ giới bồ tát được ông ban pháp danh Tề Minh Thiện Nhựt. Trong những ngày theo học đạo có vị Hoàng cô em ruột của vua yêu ông say đắm. Năm 1821 sư phụ của ông là Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc viên tịch ông trở về miền Nam chịu tang rồi ở lại. Những tưởng tránh được oan tình ràng buộc nào ngờ vị Hoàng cô si tình tìm đến tận nơi. Ông quyết định nhập thất hai năm tránh không gặp mặt người đàn bà si tình nhưng Hoàng cô quyết liệt xin được nắm tay ông. Cảm động trước tấm chân tình ấy ông đưa tay ra cửa sổ cho bà hôn. Ngay trong đêm ông đã tự thiêu sau khi ghi lại bài kệ trên vách để bày tỏ tấm lòng trong sạch của mình. Điều lạ là mọi thứ cháy hết nhưng bài kệ ông ghi trên vách vẫn còn đến nay nhiều nhà sư vẫn thuộc bài kệ này của ông. Ba ngày sau khi an táng thiền sư Hoàng cô cũng uống độc dược quyên sinh tại chùa Đại Giác.

Chúng tôi lên bờ và tìm đến với ngôi chùa được xác định là ngôi chùa của người Việt cổ nhất miền Nam. Theo thư tịch còn lại thì chùa Đại Giác thành lập từ năm 1412 có nghĩa là trước sự có mặt của công chúa Ngọc Vạn hơn 2 thế kỷ. Ngày đó ngôi chùa là một cái am nhỏ thờ Phật của người Việt dần dần dân cư đến sinh sống đông đúc họ xây trên mảnh đất ấy một ngôi chùa lớn.

Chùa Đại Giác còn có tên gọi khác là chùa Tượng ni sư Diệu Trí Huệ giải thích: Chữ "tượng" ở đây không phải là tượng Phật mà là voi vì 1802 vua Gia Long đã cho đàn voi đến chở đất đắp sân xây lại chùa. Khi công trình hoàn thành ông cho thợ tạc pho tượng Phật Di Đà bằng gỗ quí cao gần hai mét đến nay vẫn còn thờ tại chính điện.

Năm 1801 khi bị quân Tây Sơn truy đuổi Nguyễn Ánh đã đến trú ẩn tại đây. Trong bầu đoàn thê tử của ngài có công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh là người uyên thâm về Phật học công chúa xuất gia đầu Phật và ở đây cho đến khi vua cha lên ngôi và triệu hồi về kinh. Theo nhà sư Huệ Thiền thì không ai rõ tên Đại Giác tự có từ lúc nào khi công chúa về kinh bà đã để lại bài kệ giải thích ý nghĩa hai chữ Đại Giác.

Câu chuyện của Đại Giác tự và câu chuyện công chúa Ngọc Vạn có thể khẳng định những cư dân Việt có mặt tại đây từ năm 1650. Ngày nay trên cù lao vẫn còn những cảnh hoang sơ như thời mở cõi những cảnh làng quê thanh bình yên ả bên dòng Đồng Nai bốn mùa xanh thẳm.

THEO DẤU TIỀN NHÂN

Nguyễn Một

Kỳ 2:  CUỘC PHỐI NGẪU HOA VIỆT VÀ THÀNH PHỐ ĐẦU TIÊN

Vùng đất này chính thức sát nhập vào nước Đại Việt ta từ năm Kỷ Mùi (1679). Khi ấy dưới đời chúa Hiền Nguyễn Phước Tần Trần Thượng Xuyên dẫn ba ngàn quân tướng nhà Minh chạy về phương Nam lánh nhà Thanh được chúa Nguyễn cho phép khai phá phương Nam đến vùng sông nước mênh mông cây cối xanh tốt nai ăn cỏ từng đàn trên bờ cá bơi lềnh mặt nước đất lành chim đậu Trần Thượng Xuyên cho dừng quân tại ngã ba sông này và lập ra xã Thanh Hà có nghĩa là sông nước trong.

Cuộc di dân với quy mô lớn của cộng đồng người Hoa đã để lại cho mảnh đất Cù Lao Phố nhiều di sản quý báu một trong di sản ấy còn tồn tại đến ngày nay  là chùa Ông. Chùa Ông nguyên thuỷ là miếu Quan Đế thờ Quan Công và các vị tổ của các nghề cổ như: nghề mộc nghề nông nghề đá. Ngày nay chùa Ông còn có tên chữ là Thất Phủ Cổ Miếu. Đây là ngôi chùa  được ông nội của Trịnh Hoài Đức xây dựng trước nhất ở miền Nam vào khoảng năm 1684.

Chùa Ông được xây dựng theo kiến trúc hình chữ khẩu. Bên ngoài chùa là cả một công trình độc đáo các tượng gốm men xanh về các đề tài như hát bội hát tuồng múa hát cung đình tượng ông Nhật bà Nguyệt... Thêm vào đó các bức tượng bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạc đã tạo nên kiểu dáng và hình thức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa.

Trong vòng vài mươi năm nhờ tài tháo vát Trần Thượng Xuyên cùng đồng bào Hoa - Việt mở mang đường sá xây nhiều phố phường lập thương cảng sầm uất. Cảnh phồn thịnh của Cù Lao Phố lúc bấy giờ được sách Đại Nam nhất thống chí ghi lại: "Nhà ngói vách vôi lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông liền lạc năm dặm và phân hoạch làm ba nhai lộ: Nhai lớn giữa phố lót đá trắng nhai ngang lót đá ong nhai nhỏ lót đá xanh...

Trong đoàn người theo Đức ông Trần Thượng Xuyên ngày ấy có một số người nước Sùng một nước chư hầu thời cổ đại ở phía bắc Trung Quốc bị đày xuống Quảng Đông. Khi nhà Thanh cai trị họ chạy theo Trần Thượng Xuyên vào Đồng Nai. Người Việt gọi họ là người Hẹ. Những cư dân này có nghề làm đá họ là những người đục đá lát đường cho Cù Lao Phố. Nghề đá truyền dần cho người Việt. Làng đá Bửu Long là làng nghề thủ công truyền thống lâu nhất ở Đồng Nai nó tồn tại hơn 300 năm nay. Thời gian sau những người Việt vùng Ngũ Quảng theo chân Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu cảnh vào khai phá vùng đất này. Một số người gia nhập vào đội quân của người Hẹ. Ngày nay còn những người miệt mài thổi linh hồn vào tảng đá vô tri để lưu giữ chút dấu tích của người xưa.

Chúng tôi tìm về nơi người xưa đã lấy đá tạo nên thành phố đầu tiên này đó là một hồ nước xanh ngắt. Theo lời người dân Cù Lao Phố thì hồ nước này ngày xưa vốn là núi đá do quá trình lấy đá lâu ngày mà núi biến thành hồ như ngày nay.

Cuộc di dân của những người Hoa đến Cù Lao không chỉ tạo ra vùng Nông Nại đại phố sầm uất mà cuộc phối ngẫu đẹp đẽ ấy còn để lại cho đất nước những con người xuất sắc. Và một trong những con người được sinh ra bởi cuộc "hôn nhân Hoa Việt" ấy chính là Trịnh Hoài Đức người đã để lại tác phẩm bất hủ Gia Định thành thông chí.

     Trịnh Hoài Đức sinh năm Ất Dậu - 1765 tại Bình Trước (Biên Hòa) tự Chỉ Sơn hiệu Cấn Trai. Năm 1775 cha ông qua đời khi ông mới 10 tuổi mẹ ông đem con về trấn Phiên An (tức Gia Định) sinh sống. Đến năm 1782 bà cho con đến thọ giáo nhà giáo dục nổi tiếng thời bấy giờ là Võ Trường Toản. Khi quân Tây Sơn vào đánh đất Gia Định ông lánh nạn sang Chân Lạp (tức Campuchia ngày nay). Năm 1788 ông thi đỗ và được nhà Nguyễn bổ chức Hàn lâm viện chế cáo ngày càng được vua Gia Long trọng dụng. Ông lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn và thẳng tiến trên hoạn lộ: tri huyện phủ Tân Bình Đông cung thị giảng lo việc giảng dạy cho hoàng tử. Rồi được phong Hiệp bộ thượng thư Thượng thư bộ hộ Thượng thư bộ lại Tổng trấn Gia Định... Có thời Trịnh Hoài Đức được cử làm thượng thư của cả hai bộ: bộ Lại và bộ Binh. Nhiều lần ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc.

     Ông mất năm Ất Dậu (1825) hưởng thọ tròn 60 tuổi. Đương thời vua Minh Mạng vô cùng thương tiếc truyền bãi chầu 3 ngày truy phong Thiếu phó cần chánh diện Đại học sĩ. Thi hài ông được rước từ kinh đô Huế vào Biên Hòa do hoàng thân Miên Hoàng trực tiếp đứng ra tổ chức rồi đưa về tận quê hương Bình Trước an táng.

Ghi nhớ công lao to lớn và tấm gương thanh khiết của Trịnh Hoài Đức trải bao đời người dân vẫn tỏ một lòng tôn kính và biết ơn ông.

Sinh thời tuy làm quan to nhưng Trịnh Hoài Đức nổi tiếng thanh liêm suốt đời sống thanh bạch mang cốt cách của một nhà nho nhà nghệ sỹ lớn. Cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh Trịnh Hoài Đức lập ra nhóm Bình Dương thi xã được người đời xưng tụng là Gia Định tam gia. Ông để lại hai tập thơ: Cấn Trai thi tập và Bắc sứ thi tập làm trong thời gian đi sứ Trung Quốc. Khi ông mất theo ước nguyện của ông di hài được an táng tại quê mẹ. Tương truyền người bạn của Trịnh Hoài Đức là Ngô Nhơn Tịnh vốn là nhà địa lý giỏi đã chọn thế đất đẹp có dòng suối bao quanh xanh mát chảy ra hồ nước trong vắt quanh năm để làm nơi yên nghỉ cho Trịnh Hoài Đức. Ngày nay con suối đã biến mất thay vào đó là cảnh phố xá nhưng bờ hồ nơi ông nằm nhìn ra vẫn còn dù chẳng thể đẹp như ngày xưa.

 

THEO DẤU TIỀN NHÂN

 Nguyễn Một

Kỳ 3: LÀNG NGHỀ TRÊN BẾN ĐÒ XƯA

Ba trăm năm đã trôi qua kể từ lúc Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và những cư dân vùng Ngũ Quảng đặt chân đến Cù Lao Phố này. Một cái chớp mắt của lịch sử nhưng là một quãng thời gian quá dài đối với con người. Bây giờ khó có thể hình dung được cảnh những đoàn di dân ngày ấy hành phương Nam ra sao chỉ thấy dấu vết lưu truyền lại trong lời người xưa:

Tới đây xứ sở lạ lùng

Dưới sông sấu lội trên giồng cọp um.

Đồng Nai theo các nhà sử học ngay tên gọi này đã nói lên tính hoang sơ của nó. Đó là những cánh đồng hươu nai ăn cỏ từng bầy thiên nhiên hiền hòa trải rộng ngút tầm mắt. Cư dân Việt đến đây được đất mẹ giang tay đón nhận. Họ làm ăn sinh sống phát triển dần dần. Từ Cù Lao Phố họ tiến dần ra các vùng lân cận.  

Chúng tôi rời Cù Lao Phố ngược dòng sông Đồng Nai cố gắng tìm lại chút dấu tích xưa. May chăng hai bên bờ sông còn lưu lại điều gì liên quan đến những nét sinh hoạt làm ăn của tiền nhân.  

Đặt chân lên bến đò Trạm chúng tôi xao xuyến bởi khung cảnh quê mùa nằm ngay bên cạnh thành phố công nghiệp ồn ào náo nhiệt ở đây như thể lùi sâu vào quá khứ xa lạ với cuộc sống hiện đại. Một bến đò vắng. Một ngõ nhỏ buồn tênh. Một con đò nhỏ sắp sửa cập bờ. Dòng sông hiền hòa. Lắp ghép những lời kể của các cụ cao niên chúng tôi lần trở lại nguồn gốc của bến đò này.   

Ngày xưa trên con đường từ Bắc vào Nam nhiều đoạn đường chỉ là rừng núi hoang vu không có người ở. Vì vậy phải lập ra những trạm nghỉ chân dùng cho ngựa đưa thư hoặc cho quan quân di chuyển đến đó mà nghỉ. Cứ mỗi đoạn đường dài bằng một ngày ngựa chạy thì có một trạm nghỉ chân như vậy. Bến đò này cũng là một nơi người ta nghỉ chân trước khi vượt dòng Đồng Nai nên có tên là bến đò Trạm và giữa hai trạm có đồn lính gọi là Thủ ngày này còn tên gọi xưa như: Thủ Đức Thủ Thiêm Thủ Dầu Một nhưng có lẽ bến đò Trạm chỉ còn là điểm duy nhất giữa Thành phố Biên Hòa

Bến                                 Bến đò trong văn hóa Việt Nam là một biểu tượng quen thuộc và thân thương. Ở bến đò này ngoài ý nghĩa đó ra nó còn làm gợi nhớ đến những nỗi niềm khác.

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.

Một buổi chiều nào của mấy trăm năm trước ai đã bước xuống bến đò này ngoảnh nhìn trở lại cố hương mịt mờ phía sau. Công chúa Ngọc Vạn hay Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh từng bước chân đến bến đò này? Đâu là dấu chân họ đã đặt lên trên bến đò? 

Chúng tôi hôm nay những hậu duệ của bậc tiền nhân mở cõi tìm về quá vãng để lưu giữ lại chút hồn cổ xưa. Những con đò có lẽ ngàn năm qua không thay đổi hình dáng. Lặng lẽ qua sông lặng lẽ trở về. Một khoảng cách ngắn ngủi đôi bờ nhưng dài đến mấy trăm năm rồi. Còn lòng người thì sao? Có thể nào giữ mãi như buổi nguyên sơ? 

Ngoài bến đò văn hóa Việt cũng gắn liền với những vật dụng bếp núc bằng đất nung. Nó đã đi cùng dân tộc Việt từ thuở xa xưa rồi theo chân đoàn người di dân vào phương Nam. Chắc chắn rằng trên lưng ngựa vào những ngày đầu cũng có mặt những chiếc nồi đất. Dần dà người ta phải tìm cách sản xuất tại chỗ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. 

Chúng tôi tìm đến một nơi mà xưa kia gọi là làng nồi đất. Nó nằm ngay trong lòng thành phố Biên Hòa cách bến đò Trạm không xa.

Ở đây chuyên sản xuất những chiếc nồi đất và những vật dụng bếp núc khác. Bà Năm Thừa một nghệ nhân lâu đời của nghề làm nồi đất tại đây cho biết ngày xưa làng nghề này cung cấp những vật dụng thiết yếu bằng đất nung cho cư dân cả miền Nam. Hồi ấy mỗi ngày hàng chục chiếc thuyền cập bến đò Trạm để chở nồi đi khắp miền Đồng Nai Gia Định.

Vùng đất này được thiên nhiên ưu đãi cho thứ đất sét đặc biệt dễ khai thác dễ nhào nặn thành hình. Những cái nồi được nặn từ đất này ra sau khi nung lên có màu đỏ tươi gõ vào phát ra âm thanh rổn rảng. Nồi đất nấu cơm làm hạt gạo thơm hơn kho cá làm con cá ngon hơn. Vì thế mà trở nên nổi tiếng.   

Nhưng làng nồi đất qua bao thăng trầm giờ sắp sửa lụi tàn. Từ một làng nghề đông đúc hàng trăm gia đình ngày nay chỉ còn duy nhất một gia đình giữ lại nghề truyền thống này. Đó là gia đình bà Năm Thừa. Trên đường tới đây chúng tôi lo rằng gia đình cuối cùng này có thể đã chuyển nghề khác. Nhưng may mắn thay họ vẫn còn giữ nghề.

THEO DẤU TIỀN NHÂN

Kỳ 4: LÀM TRAI CHO ĐÁNG NÊN TRAI

Chia tay làng nồi đất chúng tôi tìm đến người đàn ông là hậu duệ của bậc tiền nhân mở cõi. Cư dân sinh sống lâu đời ở đây ít ai không biết đến ông Mười Cao. Ông đã là một người Biên Hòa gốc.  Còn nhớ có lần cùng ông uống cà phê bên sông Đồng Nai ông hỏi tôi :

"Chú có biết vì sao người miền Nam gọi con đầu là anh Hai chứ không phải anh Cả như miền Bắc? Rồi ông giải thích:" Thứ nhất vì Chúa Nguyễn Hoàng là em thứ hai vì di dân vào miền Nam đa số là người con thứ 2 vì người con cả phải ở lại miền Bắc để giữ từ đường. Nhưng quan trọng hơn cha ông mình gọi người tàu là thứ ba - Mấy chú Ba Tàu!- Một thông điệp tuyệt vời của tiền nhân"Chưa biết điều ông nói đúng sai nhưng nghe có lý và tôi nhớ mãi.

Nay đã gần 70 tuổi nhưng ông thường lang thang nơi này nơi kia để tìm về cội nguồn cha ông xưa. Và nhờ thế ông đã thu thập được nhiều tư liệu quý giá. Ông Mười Cao sẵn lòng cung cấp cho chúng tôi những tư liệu về mảnh đất nằm ven con sông Đồng Nai này. Những câu chuyện về dòng sông như máu thịt của cuộc đời ông. Dù là dòng họ Lê nhưng ông Mười Cao luôn chịu khó tìm hiểu thêm về các dòng họ khác. Đó là dòng họ Nguyễn của Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh và dòng họ Trần của Đức ông Trần Thượng Xuyên. Trở lại Cù Lao Phố để thăm đền thờ Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh cùng ông Mười Cao chúng tôi bồi hồi như được chạm tay vào lịch sử. Bằng giọng hiền hòa của người Nam bộ ông kể:

Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1650 mất năm 1700 là khai quốc công thần của triều đình nhà Nguyễn. Ông sinh tại huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình con thứ ba của danh tướng Nguyễn Hữu Dật. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Thiện. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu ông được xem là người xác lập chủ quyền cho người Việt tại vùng đất phương Nam vào năm 1698. Kể từ thời điểm đó Biên Hòa - Gia Định chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Năm Mậu Dần 1698 ông được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược phía Nam. Ông đã lập Gia Định phủ huyện Phước Long dựng dinh Phiên Trấn và đặt các chức vị quản trị. Do công lao này ông được coi là người đặt nền móng cho công cuộc mở đất phương Nam: chiêu dân lập ấp thiết lập nền hành chánh cai trị và gìn giữ biên cương.

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn thì vào năm Mậu Dần (1698) chúa Hiến Tông Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) sai Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất mà chúa đã chỉ định cho bọn Dương Ngạn Địch Hoàng Tiến Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình vốn là các di thần nhà Minh trước đó không chịu thần phục tân triều nhà Thanh nên đã đem 3.000 hàng quân cùng gia quyến và 50 chiến thuyền đến cư trú xin làm dân Đại Việt. Vùng đất ấy bao gồm từ khu vực Cù Lao Phố (Biên Hòa) đến Mỹ Tho. Giữa vùng này có các đồn binh trấn giữ làm luôn nhiệm vụ thu thuế thương chánh cho cả vùng. Lúc bấy giờ nơi này đã được khoảng 40.000 hộ bao gồm cả người bản địa và lưu dân.

Khi vào đến nơi Nguyễn Hữu Cảnh đã ra sức ổn định dân tình hoạch định cương giới xóm làng "lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ lập xứ Đồng Nai là huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn".

Ông tâu chúa Nguyễn điều thêm dân từ miền Trung vào khai hoang người Việt kéo vào rất đông. Bởi vậy Đàng Trong truyền tụng những câu:

          Nhà Bè nước chảy chia hai

          Ai về Gia Định Đồng Nai thì về

hay

          Làm trai cho đáng nên trai

          Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng

Năm 1699 rộ lên nhiều vụ đánh cướp người Việt tại nhiều nơi hẻo lánh dọc theo sông Cửu Long Nguyễn Hữu Cảnh nhận lệnh đem quân dẹp loạn. Gần cuối tháng 4 năm 1700 tình hình tạm yên Nguyễn Hữu Cảnh kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao (sách gọi cù lao Sao Mộc hay Tiêu Mộc hoặc châu Sao Mộc - sau này dân địa phương gọi cù lao Ông Chưởng thuộc huyện Chợ Mới tỉnh An Giang) báo tin thắng trận về kinh.

Theo Gia Định thành thông chí ở đây một thời gian ông bị "nhiễm bệnh hai chân tê bại ăn uống không được. Gặp ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 Âm lịch) ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến lạo tướng sĩ rồi bị trúng phong và thổ huyết bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14 ông kéo binh về ngày 16 đến Sầm Giang (Rạch Gầm Mỹ Tho) thì mất. Khi ấy chở quan tài về tạm trí ở dinh Trấn Biên rồi đem việc tâu lên chúa Nguyễn Phúc Chu rất thương tiếc sắc tặng là Hiệp tán Công thần thụy là Trung Cần hưởng 51 tuổi. Người Cao Miên lập miếu thờ ông ở đầu châu Nam Vang. Nơi cù lao ông nghỉ bệnh nhân dân cũng lập đền thờ được mạng danh là cù lao Ông Lễ. Còn chỗ đình quan tài ở dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ".

Trong các sách Hoàn vũ ký Nhất thống dư địa chí Đại Nam nhất thống chí Đại Nam dư địa chí ước biên Nam Kỳ địa chí... đều có ghi rõ những nơi lập đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh như Biên Hòa Long Xuyên Châu Đốc Sài Gòn Nam Vang... Trong đó đền thờ lớn nhất tại Cù Lao Phố là nơi ông dừng chân khi đến phương Nam và cũng là nơi dừng linh cữu ông trước khi đưa về cố hương. 

Sau khi Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh mất những nông dân vùng Ngũ Quảng xưa kia theo chân Đức ông đến Cù Lao Phố đã ngược dòng Đồng Nai đến một cù lao khác là cù lao Tân Triều để lập làng lập ấp và đặt tên làng Tân Bình lấy tên một huyện của quê hương Đức ông ở Quảng Bình. Nhớ Nguyễn Hữu Cảnh nhưng thật bất công khi  chúng ta quên các đời chúa Nguyễn bởi không có vua hiền thì không thể có tôi sáng và nếu không có người nhìn xa trông rộng như Chúa Nguyễn Phúc Chu thì liệu công lao của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh có được nhắc đến như hôm nay?

Trên con đường đi tìm lại dấu vết xưa chúng tôi đã bao lần bồi hồi xúc động khi lần giở lại từng trang lịch sử.  

Hoàng hôn buông xuống trên Cù Lao Phố. Ngàn vạn buổi hoàng hôn êm đềm như thế này đã đi qua đây. Hồn tiền nhân nay ở đâu? Chỉ thấy gió ngàn xưa lay động trong bóng dừa.

                              

More...

Chuyện tình trong rừng cấm

By Nguyễn Một

 

CHUYỆN TÌNH TRONG RỪNG CẤM

                                                        Truyện ngắn Nguyễn Một

            Dạo ấy Chân Tiên chưa là rừng cấm dĩ nhiên chúng còn rậm rạp hơn bây giờ. Con sông Đồng Nai đoạn chảy qua rừng cá lóc to bằng bắp chân đen trũi có lúc đuổi nhau phóng cả lên bờ. Cá Sấu nhiều vô kể chúng săn mồi quẫy đục cả khúc sông. Những chàng trai Châu Mạ da đồng hun ngực vồng như gõ mật ngồi bên sông thổi bló gọi bạn tình. Trong rừng lũ khỉ bạc má cũng động tình nhảy cỡn dưới bóng trăng. K mun thổi bló hay nhất bản Bù Cháp tiếng bló của chàng vừa dìu dặt réo rắt vừa hùng tráng hoang dại như tiếng gió thổi qua rừng già đại ngàn. Tiếng bló đã khiến cho Ruối muốn muốn bơi qua sông để ngả đầu vào bộ ngực rắn chắc của chàng. Ruối sẽ sải cánh tay tròn lẳn mềm mại vượt qua những cái miệng lởm chởm răng của bọn cá sấu mà không cần chiếc xuồng độc mộc chậm chạp neo dưới bến sông. Ruối sẽ làm điều ấy nếu không gặp phải ánh mắt K líu - cha của nàng ánh mắt của ông lóe lên dưới ánh lửa cà boong bập bùng. Đôi mắt ấy đến thú dữ còn khuất phục huống chi nàng...

Ông già ngưng kể đưa tay kéo cần rượu tu hết một vòng cò rồi ngửa cổ lên trời rú một hồi dài tiếng rú của ông rền vang núi rừng. Eden khẽ rùng mình dù cô đã được người bảo vệ kiêm hướng dẫn viên du lịch rừng cảnh báo trước với cô về thói quen kỳ dị của ông già. Khi đặt chân đến đây cô gặp ông bên bờ sông ngay từ đầu ông đã cuốn hút cô bởi vẻ độc đáo hoang dã. Hôm ấy đến văn phòng lâm trường anh chàng bảo vệ mở lời chúc mừng bằng tiếng Anh với giọng nói ngượng nghịu của người bản xứ cô phì cười và bảo : "Anh hãy nói tiếng Việt đi!" Anh ta trố mắt nhìn Eden. Hẳn anh ta không biết rằng mẹ cô là người Việt và cô biết ăn cơm bằng đũa cũng như nói tiếng Việt sành sỏi ngay từ nhỏ. Cô hỏi về ông già Thượng bên bờ sông anh ta lắc đầu bảo : "Đó là lão già quái đản người duy nhất không chịu rời cánh rừng" - Anh ta thản nhiên trả lời. Eden chìa tay về phía anh chàng bảo vệ : "Trước khi tiến hành nghiên cứu rừng tôi muốn gặp ông ta anh giúp nhé!". Anh chàng rụt tay lè lưỡi: "Không nên dính vào lão ấy". Eden nhún vai nheo mắt nói : "Tôi sẽ tự tìm ông ta vậy!".

Họ gặp nhau trong ngày lễ cúng Yang Kôi ngày lễ lớn nhất của dân Châu Mạ lễ hội tổ chức ở bản Bù Cháp. Lần ấy là lần duy nhất Ruối được qua sông để dự lễ hội. Nàng mặc chiếc váy thêu xinh đẹp mà nàng bỏ ra ba mùa trăng để hoàn thành. Chỉ lần ấy Ruối đã chết lặng trong tiếng bló của K mun. Từ đó mỗi đêm trăng Ruối nằm trên thảm cỏ để thấy mình trôi bềnh bồng dưới ánh sáng bàng bạc và bên kia sông tiếng bló của bạn tình nâng nàng lên tận bầu trời. Trong niềm phấn khích ngây ngất nàng hát :

Chim ơi ! Sao bay cao thế?

Ta mơ mà không được

Ta muốn như chim

Bay đến bên chàng chim ơi !

Khi Ruối hát tiếng bló im bặt không gian tĩnh lặng đón tiếng hát của nàng. Gió từ rừng ngưng ở ngọn cây gió từ sông lặng ở đầu nguồn. Cả hai người nằm nghiêng tai trên đất để lắng nghe lời yêu thương của nhau những lời ấy được Yang Bri chuyển giúp. Có những lúc không nghe tiếng bló của K mun Ruối ra sông soi mặt xuống dòng nước và hát :

Hỡi! Yang Dak người đến từ đâu?

Người chảy về đâu Yang Dak?

Hãy đưa lời ta đến với chàng

Yang Dak! Yang Dak!

Không có tiếng chàng ta chết mất Yang Dak ơi!

Thế là tiếng bló lại vang lên Ruối quỳ xuống để tạ ơn vị thần sông linh thiêng...

Eden ngừng thở để nghe câu chuyện dù tình tiết của nó cô thấy mang máng như chuyện tình Romeo - Juliet ở xứ sở sương mù mà cô đã nghe hàng trăm lần. Nhưng giọng kể đầy kịch tính của ông già giữa khung cảnh hoang tịch này khiến cô cảm động muốn khóc. Eden không ngờ những người thiểu số hiền hành có vẻ ngu ngơ lại yêu mãnh liệt đến vậy hiện đại đến vậy. Một cảm giác kỳ lạ rạo rực trong người cô thoáng nhớ Paul anh đã dạy cho cô những thứ mà anh gọi là "kỹ thuật trên giường" và dù đã chìm đắm trong đam mê thể xác đến lịm người cô cũng chưa từng có cảm giác như vậy bao giờ. "Có lẽ mình chưa yêu - cô nghĩ thế - hẳn giờ này Paul đang trình diễn thứ kỹ thuật mới với cô gái tóc vàng nào đó và Eden cũng chưa bao giờ cảm thấy cần Paul đến độ : Nếu không có tiếng chàng ta chết mất"...

... Vút... phập - K líu vung con dao rừng sáng quắc chém mạnh vào thân cây gõ mật. Trước sự run rẩy của Ruối ông cất giọng ồm ồm nói : "Nếu mày không nghe lời tao mắt sẽ không còn nhìn thấy mặt trời tai sẽ không còn nghe được tiếng con chim hót. Mày không được lấy thằng K mun!".

Chẳng ai hiểu lý do gì mà ông K líu căm ghét dân bản Bù Cháp như vậy. Từ ngày Ruối còn bé xíu đã không thấy mặt mẹ. K líu cõng con gái trên lưng vượt qua sông Đồng Nai với khuôn mặt đầy vết dao chém ông trỏ con dao rừng xuống sông và thề sẽ không bao giờ trở lại bên kia sông. Đến bây giờ không ai biết chuyện gì xảy ra với ông và tại sao ông có lời thề độc địa ấy. Ngay cả Ruối cũng không dám hỏi cha về người mẹ của mình. Những người dân Chơ Ro bên này rất yêu quí nàng dù họ ngại giao du với cha nàng. Họ nhờ Ruối thêu váy đẹp rủ nhau ra bờ sông nghe Ruối hát. Nhiều chàng trai Chơ Ro tặng nàng những chiếc vòng đẹp làm từ sừng của con Min to lớn mà họ săn được. Họ không biết thổi bló như người Mạ nhưng họ đánh chiêng rất hay và biết hát những bài hát tỏ tình yêu của mình. Tiếc thay! Trái tim nàng đã để lại bên kia sông. Tiếng bló của K mun làm sống lại dòng máu của người Mạ trong người nàng hay từ tiền kiếp nàng là ống trúc trên môi chàng.

Không cưỡng được sự thôi thúc của tiếng gọi bạn tình đêm ấy một đêm trăng giữa tháng tư nàng vượt sông trong lúc cha nàng đang đi thăm bẫy hươu trong rừng. Các cô gái Chơ Ro rú lên khi nàng lao xuống dòng sông lấp lánh ánh trăng. Họ biết sự nguy hiểm rập rình dưới dòng sông yên tĩnh kia. Những con cá sấu hung dữ đói mồi sẽ không tha cho nàng. Ruối bơi vun vút tiếng bló mỗi lúc mỗi dồn dập như muốn nâng nàng lên trên mặt sông. Vài mươi sải tay nữa thôi nàng sẽ được ngồi bên K mun. Chợt tiếng bló ngưng bặt K mun sửng sốt nhận ra Ruối phía sau nàng một vệt trăng xao động chàng ném bló xuống và lao xuống dòng sông...

Eden nín thở theo dõi cuộc hạnh ngộ kỳ lạ của đôi bạn tình trên dòng sông. Cô tưởng tượng ra cảnh ấy không mấy khó khăn. Đột nhiên ông già ngưng kể Eden cảm thấy chới với như mình đang bơi và bị kéo chìm xuống dòng nước. Ông già đứng lên lại bên vách rút ống trúc dùi lỗ như ống sáo của người Kinh và trịnh trọng đưa lên miệng. Từ chiếc ống trúc đơn sơ ấy phát ra âm thanh réo rắt trầm bổng. Eden thốt lên "bló" ông già khẽ gật đầu. Tiếng bló càng lúc càng ai oán như tiếng khóc tiếng nấc tiếng tác thê thảm của loài hươu bị mất bạn tình... Eden rùng mình cô chợt tưởng tượng vệt trăng sau lưng Ruối chính là con cá Sấu thật kinh khủng quá! Eden nghĩ: "Nếu là Paul anh ấy có lao xuống sông cứu mình không nhỉ?". Rồi cô lại nghĩ "Liệu mình có đủ can đảm để liều mình như Ruối không?"

Ông già buông thõng hai tay thả ống trúc rơi xuống chân hướng cái nhìn về phía dòng sông. Đôi mắt ngây ngô hiền hòa. Eden nhớ khi gặp ông ông đã nhìn cô bằng đôi mắt như vậy không ngạc nhiên không xa lạ. Cô dùng tiếng Việt để trò chuyện cùng ông cô xuống suối phụ ông bắt cá cô nhanh chóng tạo được sự thân thiện cùng ông. Khi cô bày tỏ muốn nghe một câu chuyện tình của người thiểu số ông đã mỉm cười. Càng lúc cô càng thấy ông gần gũi như đã quen từ lâu. Những người trên trạm bảo ông là "lão già điên" còn ông gọi họ là "bọn ăn cắp". Cô không hiểu và cũng không muốn tìm hiểu điều này. Ông già vẫn im lặng nhìn phía dòng sông. Eden muốn hỏi ông về "đoạn kết của chuyện tình" nhưng cô sợ nó sẽ là đoạn kết buồn mà cô không muốn nghe. Cô ngước nhìn ông và cô sửng sốt nhận ra hai giọt nước mắt lấp lánh trên gò má nhăn nheo của ông già.

Sáng hôm sau trong chuyến đi rừng Eden đem chuyện này kể lại với người hướng dẫn anh ta cười và bảo :

•-       Cô tin vào chuyện ấy sao? Tôi nghĩ đó chỉ là chuyện bịa đặt. Nghe đâu ông già còn bảo chính ông ta là chàng K mun và nơi ông sống là chỗ ở của cô gái ngày xưa.

•-       Nhưng ông ta bịa thế để làm gì? - Eden hỏi.

•-        Cô không hiểu những người dân tộc thiểu số bây giờ họ khôn ngoan lắm chứ không chất phác như ngày trước nữa đâu. Có thể câu chuyện ấy là lý do để ông ta ở lại khu rừng này vì ông ta đã quen với cuộc sống hái lượm nên không thích qua bên kia sông để làm rẫy như mọi người. Im lặng một lát anh ta nói tiếp :

•-        Kể ra ông già ấy có năng khiếu tưởng tượng nhất trong số người dân tộc mà tôi từng gặp.

Nói xong anh ta cười lớn ra vẻ hài lòng với nhận xét của mình. Eden không tranh cãi cô cảm thấy những lời giải thích của anh bảo vệ rừng kiêm hướng dẫn du lịch này có cái gì đó khiên cưỡng và không thuyết phục lắm. Cô khẽ lắc đầu và săm soi nhìn đám lá mục dưới đất mong bắt gặp dấu chân của những con thú hiếm đang được bảo vệ chu đáo trong khu rừng cấm.

More...

Cám ơn bạn văn Mai Thìn Nguyễn Mỹ Nữ Lê Hoài Lương

By Nguyễn Một

 

Truyện ngắn "Đoạn kết một mối tình" viết từ năm 1995 lần đầu xuất hiện trên văn nghệ trẻ với tên: "Tha Hương" sau đó nhà văn Hữu Việt đăng lại trên Tiền Phong anh sửa lại tên mới " Đoạn kết một mối tình". Mười lăm năm sau bạn tôi nhà văn Mai Thìn đọc trên đài Bình Định với 2 lời bình cảm động của nhà văn Lê Hoài Lương và nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ. Xin cám ơn thật nhiều các bạn văn đã dành tình cảm đầy ưu ái cho Nguyễn Một

Kính

Nguyễn Một


Lời bình: "ĐOẠN KẾT MỘT MỐI TÌNH"/ phát 27-3-010


Nguyễn Mỹ Nữ


          Cả hai đã có với nhau một tuổi thơ bình yên nơi quê nhà. Bên dòng sông Giao Thủy hiền hòa. Đã học chung trường đã ngồi cùng lớp đã cùng chúng bạn trốn học lùng sục trong các bụi cây bên sông để kiếm sim mua duối du dẻ. Tuyết cô bạn nhỏ ngày ấy vốn yêu hoa du dẻ. Tuyết thường nâng niu những chùm hoa đồng nội đơn sơ có màu vàng nhẹ trên đôi tay ôm và không quên ủ vào tập vở để lưu giữ mùi hương. Những thân thiết trẻ thơ dần chuyển biến thành tình yêu đôi lứa hết sức tự nhiên hết sức nhẹ nhàng. Và nhân vật xưng Tôi  của: " Đoạn kết một chuyện tình" có tình ý với Tuyết ấy cũng là lẽ tất nhiên. Đã yêu thì luôn khát khao có nhau luôn muốn được sum vầy luôn mơ tưởng đến ngày kết hợp vào đời nhau mãi mãi. Nhưng rồi sự chia xa cũng đã kịp mở ra cho cả hai những lối rẽ khi bước chân xuống đời và đối mặt với thực tế phũ phàng.

          Ba Tuyết tử trận trong ngày Đà Nẵng được giải phóng. Ba Tuyết làm lính Quân tiếp vụ và trú đóng ngay tại thành phố này. Chị Tuyết tìm vào miền nam để mưu sinh. Tuyết nghỉ học để phụ giúp gia đình.Cậu bạn ngày nhỏ của Tuyết thi đậu Cao Đẳng Sư Phạm nhưng nhà không có tiền theo học đành bỏ ngang. Đành dứt áo ra đi và vẫn chọn đất phương nam để kiếm sống. Đã trở thành một gã công chức mẫn cán luôn hy vọng kiếm đủ tiền để về quê có vợ. Cưới Tuyết tất nhiên. Vậy mà chỉ hai năm sau gã đó đã nhận được thiệp hồng của cô gái mình hằng yêu và mơ tưởng "...Tôi không dám về lại quê hương. Tôi không đủ can đảm đặt chân lên bờ sông đầy ắp những kỷ niệm của hai đứa đầy ắp mùi hương ngọt ngào của hoa du dẻ trong ký ức tuổi thơ". Như vậy là đã không còn có thể thuộc về nhau được nữa rồi. Là mất nhau chứ sao! Là đoạn kết của tình yêu có phải?

          Nếu thế được có khi lại hay và cả nữa lại... may. Đây Tuyết tìm vào chỗ người chị ở và gặp lại cậu bạn trai ngày đó. Bắt người ấy cảm xót cho cảnh ngộ trớ trêu của mình trong hôn nhân vì gặp phải thằng chồng đê tiện vũ phu chưa đủ. Còn khơi gợi nơi tâm hồn nhân vật này những tình cảm thiết tha một thủa nào. Rồi khiến cho người ấy thao thức người ấy đợi trông... Có tình yêu nào lại thiếu đi ngọn lửa khát khao? Có tình yêu nào mà không ngời ngợi những tin những yêu những hy vọng? Nhưng nói như những câu thơ của Hồng Thanh Quang mà Phú Quang đã phổ nhạc. Bài:       "Khúc mùa thu". Một bài hát mà tôi rất thích thì: " ...Nhưng chưa hết cuộc yêu tôi đã hiểu. Em cũng là như mọi người thôi". Thế nên cái đoạn kết của cuộc tình này đã phải khác. Đành phải khác vậy.

          Tuyết theo chị vào Vũng Tàu và thay đổi tất cả. Từ điệu bộ trang phục cách nói năng lối nghĩ cách nhìn người nhìn đời. Cũng đâu có gì lạ! Khi đã chọn cho mình một kiểu yêu một kiểu sống... Tuyết đã trở thành một con người khác. Trong mắt tác giả. Người kể lại câu chuyện này. Cũng là nhân vật chính của: "Đoạn kết một cuộc tình". Thế nên ngày gặp lại nhau mới đến là bẽ bàng "...Còn tôi ngồi trên ghế mồm há hốc như trời trồng đầu óc mụ mẫm mọi thứ chung quanh quay cuồng chao đảo...". Bên cạnh tình yêu với Tuyết trong truyện ngắn này nhà văn còn dẫn đưa chúng ta đến với một tình yêu khác nữa. Đó là tình yêu của chị Tuyết. Của Lệ dành cho gã họa sĩ. Một tình yêu ngây khờ trong trẻo. Nhưng có hề gì? Bởi non dại hôm này để cáo cạnh mai này. Khờ khạo bây giờ để nhiễm đầy toan tính ngày tới. Đó cũng là một cách yêu. Có điều yêu thật thà thì bị phụ bạc. Còn yêu man trá chắc gì lại không bị trả giá? Đã sống hết đâu để mà yêu thêm yêu thêm và nếm trải thêm nếm trải thêm những: "Đoạn kết một chuyện tình".

          Lối viết không mới. Một chuyện tình cũng không lạ. Thấy đầy hết. Nghe đầy hết. Nhưng Nguyễn Một thuyết phục chúng ta bằng chính sự mộc mạc chân chất của mình như dòng sông quê anh êm đềm như tuổi thơ anh dung dị như tình yêu anh đơn sơ nên mùi hoa du dẻ dẫu hương rất nhẹ vẫn còn đọng lại đó thôi! Nơi tâm tưởng người đọc khi truyện đã thật sự được khép lại...

                                      



LỜI BÌNH TRUYỆN NGẮN ĐOẠN KẾT MỘT MỐI TÌNH CỦA NGUYỄN MỘT/ 27-3-10

Lê Hoài Lương


Không đoạn kết có hậu theo cách nghĩ cũ cho một cuộc tình một cuộc tình đẹp mà vì nhiều lý do là nghịch cảnh là sự ngây thơ... hai người yêu nhau không đến được với nhau. Cái đoạn kết bất ngờ xem ra cũng không hẳn bất ngờ nó là đời sống có điều con người ít để ý con người thích những gì màu mè thi vị hơn. Đoạn kết cuộc tình ấy thế này: "Tuyết đi đã lâu rồi tôi mới sực tỉnh. Tôi gục xuống bàn. Tuyết ơi! Tuổi thơ của tôi ơi! Tôi muốn nghĩ ra một đoạn kết thật tuyệt vời cho mối tình của chúng ta nhưng đã muộn mất rồi!". Tuyết đi kèm theo lời hẹn rằng lúc nào rảnh xuống Vũng Tàu em đón anh như vua "ông xã" em lâu lâu mới về nước... Cô gái quê tên Tuyết mối tình đầu có tên là quê hương và tuổi thơ giờ đã quá đổi thay cuộc trơ lì và dửng dưng đã thay thế những xúc cảm hồn nhiên trong trẻo nhất mà con người từng có được cái thuở ban đầu e ấp làm người lớn. Thêm chị Tuyết Lệ nữa. Tốt bụng thực dụng và nhanh chóng thích nghi với nghịch cảnh và biết khai thác tối đa nhan sắc của mình. Xét cho cùng chị em Lệ Tuyết có cái lý để sống theo cái cách "thích nghi" quá bạo liệt và riết róng. Gã chồng quê tìm vô đánh Tuyết và dày vò cô như con vật gã họa sĩ "tặng" Lệ đứa con rồi quất ngựa truy phong... hai chị em còn sắc hương việc gì không chỉnh trang lại để có một gã đàn ông nào đó đền bù. Cuộc yêu xa rồi giờ là cái giá của "kiều nữ và đại gia" cũng xa xưa chuyện này cũng quen lắm thực tế này của nhân sinh. Vậy mà đọc đến đoạn kết vẫn cứ thảng thốt ngỡ ngàng.

Sao vậy? Vì lòng người vốn yếu mềm vốn thích những điều tốt đẹp trong cuộc sống vốn từng mơ những giấc mơ thần tiên đổi đời... "đoạn kết một mối tình" của Nguyễn Một không chìu theo cái lẽ đa cảm của trái tim ưa thổn thức chăng? Hay những giá trị thiêng liêng cao quý theo ý nghĩ cũ đã thành lỗi thời thành lạc hậu?


Không có đoạn kết nào "muộn" cả. Bởi "một đoạn kết tuyệt vời" cũng chỉ là ảo tưởng. Nguyễn Một bằng chuyện tình đã thành công khi viết về những chuyển động không ngừng nghỉ của cuộc sống của các giá trị tưởng là bền vững!

LHL




ĐOÀN KẾT MỘT MỐI TÌNH/2788/27-3-10


Truyện ngắn của Nguyễn Một


Người ta đồn "Tuyết yêu tôi". Họ còn khẳng định chính miệng em nói ra điều ấy. Ngay cả chính tôi tôi cũng không biết rõ được là Tuyết có yêu tôi hay không. Có lần mấy người đã nhìn thấy tôi ôm bờ vai nhỏ nhắn gầy guộc của Tuyết để vỗ về sau lần em bị gã chồng vũ phu tìm vào tận đây để hành hung. Buổi chiều đầu tiên khi Tuyết đến đây dắt theo đứa con trai nhỏ đôi mắt buồn bã ngơ ngác đã làm cho em nhanh chóng nhận được sự thương cảm của mọi người. Hai ngày sau xóm tôi bị náo loạn bởi gã đàn ông thô lỗ và tục tằn. Hắn đến chửi toáng ngay từ đầu ngõ bằng nhiều thứ ngôn ngữ mà ở đây rất ít được nghe.

Chửi thỏa thích hắn xông vào đánh Tuyết. Lúc hàng xóm gỡ được hắn ra khỏi người Tuyết hắn vẫn cố cắn vào vành tai của Tuyết như con chó dại và nhổ đánh toẹt xuống nền nhà một bãi máu tươi kèm theo câu nguyền rủa : - Mày mà bỏ tao chỉ có nước làm đĩ mà sống nhưng bỏ tao không dễ đâu. Lúc tôi về chồng Tuyết đã đi mang theo tất cả áo quần của hai mẹ con. Câu chuyện ấy qua miệng mấy bà hàng xóm làm tôi nổi gai ốc cùng mình. Tôi tiếc không có ở nhà để bảo vệ em. Ngoài tôi ra em còn biết trông cậy vào ai nơi đất khách quê người.

 ***

Khi chia tay Tuyết rời quê hương để tìm kế sinh nhai tôi được chị Lệ chị của Tuyết giúp đỡ tận tình từ công việc làm ăn đến nơi ăn chốn ở. Ngoài tôi ra chị Lệ còn cưu mang một gã họa sĩ lang thang thất nghiệp. Không biết chị lôi anh ta từ đâu về với đống đồ nghề lỉnh kỉnh. Căn hộ của họ trở thành xưởng vẽ bề bộn với nhiều bức tranh lộn xộn những ngựa những người không ra hình thù gì cả. Vậy mà chị Lệ cứ tấm tắc khen đẹp. Tôi không quan tâm lắm đến quan hệ của họ. Nhưng theo lời của những người đàn bà trong xóm thì hình như chị quen gã từ hồi gã còn là sinh viên. Bây giờ họ sống với nhau theo kiểu "già nhân ngãi non vợ chồng".

 Gã họa sĩ thường ít ra khỏi nhà. Sau giờ làm việc của chị Lệ họ thường đóng chặt cửa lại sống tự nhiên chẳng màng sự dị nghị của mọi người. Tôi nghe mấy bà hàng xóm xì xào: - Gớm ! Con Lệ ở truồng dồng dỗng trên giường cho thằng ấy vẽ rõ là cái đồ dở hơi! Đàn bà như thế mà không biết xấu hổ đi ra ngoài cái mặt cứ câng câng thấy mà ghét! Mặc ai muốn gì thì nói tôi vẫn cứ phục cách sống của hai người. Họ "sống ra sống" chứ cứ như tôi cái gì cũng sợ thì suốt đời chỉ là thằng công chức quèn. "Yêu không dám nói ghét không dám chê" người ta cũng khinh. Cả năm trời tôi mới có dịp nói chuyện với gã họa sĩ được một lần. Đấy là vào cái dịp sinh nhật lần thứ ba mươi sáu của chị Lệ cũng bánh kem cũng nến hồng nhưng chẳng vui vẻ gì. Gã nhìn tôi không mấy thiện cảm.

Buổi sinh nhật chỉ có ba người. Chị Lệ lăng xăng cố làm cho chúng tôi thân nhau : - Này anh ! Long nó hiền lắm đấy người đồng hương của em.

 - Ừ!

- Hồi ở quê khi nó còn nhỏ nó chơi thân với con Tuyết lắm. Hai đứa thật đẹp đôi nhưng... ai dè...

- Ừ!

- Nó vào đây làm ăn em xin việc cho nó làm bây giờ được cấp nhà rồi.

- Ừ!

Thấy không thể cạy miệng được người yêu chị Lệ chuyển đề tài :

•-         Nó cũng biết vẽ nữa. Hồi ở quê nó đập cục pin vẽ hình má em giống y hệt.

Tôi tính nói "Thôi chị ạ..." nhưng thấy gã nhếch mép cười tôi điên tiết muốn tống vào mồm gã một quả và hét vào mặt gã: "Đồ thối thây tao biết mày coi khinh mấy thằng vẽ chân dung nhưng dù sao thì nó cũng kiếm được vài chục ngàn chứ không bám váy đàn bà để mà vẽ ba cái thứ đùi chẳng ra đùi mông chẳng ra mông như mày". Mặc cho tôi lồng lộn trong lòng sau nụ cười khinh mạn ấy gã uống rượu tì tì.

Gần cuối bữa tiệc gã mới mở miệng bảo tôi theo kiểu đàn anh:

•-         Này cậu ạ! Thà chấp nhận sống cho người ta ghét chứ đừng để người ta khinh vì sự hèn nhát của mình!

Tôi co rúm người lại hình như gã đọc được ý nghĩ của tôi. Câu nói ấy đã làm rạn nứt vĩnh viễn mối quan hệ giữa tôi với gã mà chị Lệ đã cố công bồi đắp. Gã nói đúng! Nhưng thói thường người đời rất ghét những ai chọc mũi dao vào yếu huyệt của họ. Tôi không phải là trường hợp ngoại lệ. Lần đầu tiên trong đời tôi uống rượu nhiều đến như vậy. Tôi gục xuống trước ánh mắt thương hại của gã. Chị Lệ dìu tôi về phòng đắp khăn nóng cho tôi hình như chị có an ủi tôi:

•-         Em đừng giận anh ấy nghệ sĩ thường hay gàn như vậy nhưng họ là những con người chân chính.

Tôi không còn biết gì nữa đầu óc mụ mị. Bàn tay dịu dàng của chị đã đưa tôi về với quê hương bên dòng sông Giao Thủy êm đềm xanh thẳm đưa tôi về với Tuyết của tôi.

***

Quê tôi nghèo nhưng có một dòng sông. Dòng sông là tài sản lớn nhất của tuổi thơ tôi.

Trường làng tôi là ngôi đình lớn nằm dưới gốc đa cổ thụ. Cả ba lớp nhất nhì ba đều do thầy Hồng đảm trách. Tôi và Tuyết cùng học lớp nhì. Trong số những đứa trẻ cùng trường chỉ có chị em Tuyết là có tên văn hoa nhất. Nhà Tuyết khá hơn những gia đình trong xóm. Ba Tuyết làm lính Quân tiếp vụ ở Đà Nẵng. Mỗi chủ nhật ông mang về cả thùng đồ hộp để phát cho lũ trẻ chúng tôi. Mẹ Tuyết không phải "chân lấm tay bùn" như mẹ tôi nhưng hai bà lại rất thân với nhau. Nhiều lần bà kể cho mẹ tôi nghe "ba của Tuyết muốn dời gia đình ra Đà Nẵng nhưng bà không muốn xa quê hương xóm giềng". Tôi cũng cầu mong như vậy. Tôi và Tuyết thân nhau từ bé.

Mỗi lần tan học chúng tôi rủ nhau ra sông để chơi đùa trên cát khi đã chán chê tôi dẫn Tuyết lùng sục trong các bụi cây bên sông để tìm hoa dủ dẻ. Tôi không thích hoa tôi chỉ thích trái bất kể sim mua duối hay dủ dẻ... Nói chung bất cứ thứ gì ăn được là tôi thích. Tuyết thường mang hoa dủ dẻ về ủ trong tập cho thơm. Nhìn bàn tay nhỏ nhắn của Tuyết nâng chùm hoa tôi cũng đâm mê. Nhất là cặp mắt đen láy tròn xoe khép lại nhẹ nhàng mỗi khi tôi dúi những cánh hoa màu vàng lợt vào tay em. Đôi mắt đã làm tôi ngơ ngẩn cả người. Mỗi lần trốn học tìm hoa cho Tuyết tôi bị thầy Hồng đánh sưng cả mông.

Biết chuyện mẹ tôi mắng:

•-         Thằng này lớn lên rồi đến khổ vì gái. Ngày ấy còn quá nhỏ nên tôi không chú ý lắm đến câu nói của mẹ.

Chỉ chờ mẹ xoa đầu xong tôi tót ra sông vùng vẫy thỏa thích. Dòng nước mát vuốt ve thân hình đen trũi của tôi và nụ cười trong trẻo của em sau mỗi cú bông nhông là tôi quên béng những trận đòn của thầy Hồng. Dạo ấy chiến tranh xảy ra liên miên trên quê hương tôi. Nhưng đó là nỗi lo của người lớn. Còn với tuổi thơ chẳng có chuyện gì đáng quan tâm vì thường xuyên được nghỉ học và ít bị đòn hơn. Chúng tôi cứ thế lớn lên như cây cỏ đồng bằng. Một hôm Tuyết vén áo lên cho tôi xem và bảo:

•-         Anh Long! Ở ngực em nổi lên cái cục gì cưng cứng như ngón tay cái vậy?

 Tôi đưa tay sờ thử. Về nhà đánh bạo hỏi mẹ. Mẹ tôi nạt:

•-         Đồ con nít ranh.

Người lớn thật khó hiểu. Sáng ra mẹ Tuyết qua nhà tôi. Không biết hai bà xì xầm chuyện gì có vẻ bí mật lắm. Hai hôm sau gặp tôi mặt Tuyết đỏ bừng quay đi... Mấy ngày xa nhau tôi cứ vơ vẩn như người mất hồn. Cả tháng sau chúng tôi mới chơi lại với nhau. Nhưng tôi không còn dám tắm truồng và hai đứa không còn ôm nhau lăn tròn trên cát như ngày xưa.

Ba Tuyết tử trận trong ngày Đà Nẵng được giải phóng. Chị Lệ vào miền Nam làm ăn. Tuyết nghỉ học sớm ở nhà phụ mẹ. Tôi thi đậu vào Cao đẳng Sư phạm nhưng không đủ tiền ăn học. Tôi buồn đời quyết định vào Nam làm ăn. Ngày chia tay bên bờ sông chúng tôi nắm tay nhau tôi không dám mở miệng chỉ sợ mình bật khóc trước mặt con gái. Khi lên tàu tôi mới sực nhớ tôi chưa hề thổ lộ tình yêu của tôi đối với em. Tôi vào miền Nam tìm đến địa chỉ của chị Lệ nhờ chị giúp đỡ tôi trở thành công chức mẫn cán với hy vọng sẽ dành dụm được ít tiền để về quê cưới vợ. Tôi luôn có niềm tin chắc chắn là Tuyết sẽ chờ tôi. Hai năm sau tôi nhận được thiệp hồng của Tuyết với dòng chữ dửng dưng: "Em lập gia đình anh gắng về dự đám cưới của em".

Tôi đổ gục như một cây chuối bị chặt ngang hông. Tôi không dám về lại quê hương. Tôi không đủ can đảm đặt chân lên bờ sông đầy ắp những kỷ niệm của hai đứa đầy ắp mùi hương ngọt ngào của hoa dủ dẻ trong ký ức tuổi thơ. "Cầu cho em được một người tình như tôi đã yêu em". Tôi lẩm bẩm nhiều lần câu thơ của Puskin như một người điên. Chị Lệ đi đám cưới về mang theo chùm hoa dủ dẻ khô Tuyết gửi vào tặng tôi. Chị an ủi:

•-         Cậu đừng trách nó. Mẹ chị bệnh mình nó lo không nổi mang ơn người ta với lại cậu đã nói gì với nó đâu mà bắt nó chờ.

Tôi mỉm cười cay đắng.

***

Khi Tuyết dắt con vào đây chị Lệ đã bỏ đi gần ba tháng. Gã họa sĩ đã "quất ngựa truy phong" lúc chị đang mang bầu. Cắn răng chịu đựng "lời ong tiếng ve" của xóm giềng để nuôi đứa bé cứng cáp rồi chị ẵm con đi. Chị nói với tôi:

•-         Chị đi nơi khác làm ăn và chị sẽ trả thù lũ đàn ông bội bạc.

Tội nghiệp bé Bầu. Ngày ra đi nó ôm cổ mân mê đùa nghịch chòm râu cằm lởm chởm của tôi. Cầm lòng không đậu tôi hôn nó ràn rụa nước mắt. Chị Lệ nhờ tôi trông hộ căn nhà. Tuyết đến tôi giao chìa khóa lại cho em. Qua Tuyết tôi biết mẹ em đã mất. Còn quê nhà cũng không khá hơn ngày tôi ra đi được mấy vì bão lụt triền miên.

Chồng của Tuyết là một gã lái buôn cây. Hắn yêu Tuyết điên cuồng như con thú nhưng lại rất chi li đê tiện. Sau cái ngày hắn vào tận miền Nam hành hung Tuyết đã khóc và nói với tôi :

•-         Nghèo là rất nhục. Nghèo là mất hết tất cả. Phải cần có tiền anh biết không?

Tôi nghĩ chắc em xúc động quá mới nói như vậy thôi chứ ngày xưa chúng tôi đâu cần tiền mà cũng hạnh phúc vậy. Tôi san sẻ cùng em món tiền ít ỏi kiếm được từ đồng lương công chức. Tôi hy vọng khi nỗi buồn qua đi tôi sẽ nhắc lại với Tuyết những kỷ niệm thời thơ ấu. Chắc là Tuyết sẽ hiểu được lòng tôi. Chúng tôi dường như không có duyên nợ với nhau. Tôi chưa kịp nói với Tuyết dự định của tôi thì chị Lệ trở về. Đi với chị là người đàn ông mâp mạp trên chiếc xe hơi đời mới bóng lộn.

Hai chị em ôm chầm lấy nhau mừng rỡ :

- Chị về quê tìm em mới hay em vào đây. Biết chuyện chị đã lo thủ tục ly hôn cho em.

- Cảm ơn chị.

- À quên! - Chị Lệ quay qua tôi - Chị em lâu ngày gặp nhau mừng quá quên giới thiệu với cậu Long đây là anh Đường ông xã của chị Giám đốc Khách sạn Hoa Biển ở Vũng Tàu. Còn đây là cậu Long cùng cơ quan cũ với em. Ông Đường hờ hững đưa tay về phía tôi. Tôi nắm bàn tay mềm nhũn đầy đặn của ông. Tôi có cảm giác như đụng phải con sùng đất. Chị Lệ vốn đã đẹp nay càng rực rỡ hơn trong bộ trang phục đắt tiền. Chẳng trách sao chị mê họăc được người đàn ông tóc đã hoa râm.

Đầu óc tôi choáng váng khi nghe chị Lệ giục Tuyết:

•-         Bỏ hết xuống dưới đó rồi sắm lại. Ba cái đồ này xuống Vũng Tàu ai mà xài.

"Ba cái đồ" tôi nhịn ăn nhịn mặc để sắm cho Tuyết ! Thêm một lần nữa tôi để vuột mất hạnh phúc trong tầm tay. Cảm thấy mình thừa thãi tôi cúi xuống ôm thằng bé con của Tuyết vào lòng:

- Cháu ngoan của chú đi rồi có nhớ chú không?

- Nhớ chú nhiều.

 - Có thương chú không?

- Thương chú nhất sau mẹ Tuyết.

Tôi nghe nghẹn nơi cổ. Tôi bỗng nhớ bé Bầu con chị Lệ chẳng thấy cháu đâu.

Tôi muốn hỏi chị nhưng không dám. Nhìn chiếc xe hơi bóng loáng vút đi mang theo hai mẹ con Tuyết tôi cố nuốt miếng nước bọt qua cổ họng khô khốc của mình.

***

Chuyện xảy ra đã lâu rồi mà tôi vẫn không thể tin được là con người có thể thay đổi nhanh chóng đến như vậy. Tôi không muốn kể thêm đoạn này. Nó cứ rờn rợn làm sao ấy. Nhưng thật sự không thể giấu được dù nó tàn nhẫn như mũi dao xuyên qua trái tim ngu muội của tôi.

Tuyết đi được nửa năm nhưng chẳng có lấy một lá thư. Tôi nhớ quay quắt tìm xuống Vũng Tàu. Đứng trước biệt thự đồ sộ của ông chủ khách sạn tôi không dám bấm chuông. Đón xe trở về Long Khánh tôi ôm đầu nguyền rủa sự nhút nhát của mình. Một năm sau Tuyết về thăm tôi trên chiếc Dream II màu nho. Tôi sững sờ không còn nhận ra cô thôn nữ ngày nào.

Tuyết bảo tôi:

- Chị Lệ biểu em về nói với anh là chị Lệ cho anh căn nhà của chị anh bán kiếm ít tiền phòng thân. Chứ người khờ như anh có ngày chết đói. Còn em em đã có nhà riêng có xe. Khi nào về Vũng Tàu ghé lại nhà em em sẽ tiếp đãi anh như vua. "Ông xã" của em lâu lâu mới qua Việt Nam ghé ở vài bữa rồi chạy qua bên đó với bà vợ già của lão anh đừng ngại... Tuyết nheo mắt nhìn tôi cười nói giọng tỉnh queo. Còn tôi ngồi trơ trên ghế mồm há hốc như trời trồng đầu óc mụ mẫm mọi thứ xung quanh như quay cuồng chao đảo.

Tuyết đi đã lâu rồi tôi mới sực tỉnh. Tôi gục xuống bàn. Tuyết ơi! Tuổi thơ của tôi ơi! Tôi muốn nghĩ ra một đoạn kết thật tuyệt vời cho mối tình của chúng ta nhưng đã muộn mất rồi!

NM



More...