GIỚI THIỆU CHƯƠNG 1&2 TIỂU THUYẾT MỚI "ĐI NGƯỢC MẶT TRỜI" CỦA NGUYỄN MỘT, DỰ ĐỊNH XUẤT BẢN NĂM 2012

 

                                                     Nguyễn Một

 

 

 

 

ĐI NGƯỢC MẶT TRỜI

 

tiểu thuyết rời rạc

 

Cuốn sách này có thể làm phiền bạn vì những mảnh chắp vá rời rạc của cuộc đời như giấc mơ buồn mà sau khi tỉnh dậy bạn không thể kể lại được câu chuyện một cách trọn vẹn.

NM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 1: KÝ ỨC CHẠC CHÌU

 

Cỏ vẫn còn ướt đẫm sương đêm, mượt như nhung, mùi dịu ngọt của hoa mùa xuân, mùi ngai ngái của lá cao su mục, mùi đất đỏ găn gắt, tạo ra hương vị đặc trưng của vùng bán cao nguyên bazan màu mỡ, ngút ngàn cao su, mê hoặc anh ngay lần đầu đặt chân đến đây. Tất nhiên sự mê hoặc không thể không kể đến Hà, người con gái xứ đạo ven rừng cao su mà anh gặp trong chuyến lang thang trong đêm giáng sinh rực rỡ ánh đèn từ những ngôi nhà  yên lành của xóm đạo. Hà đẹp, anh gọi một cách ngắn gọn để không phải mô tả những chi tiết như chân dài, eo thon, ngực nở, má đỏ môi hồng, bởi anh là nhiếp ảnh gia, chứ không phải nhà văn, ngôn ngữ nghệ thuật của anh là ánh sáng.

Anh nặng nhọc bước lên con dốc mịn mượt cỏ với vô số công cụ nhiếp ảnh trên người. Hà tung tăng phía trước, nàng nhẹ nhàng như lướt trên cỏ, kiểu đi mà anh hay đùa là“ tiên nữ hái đào”. Mặt trời ló dạng qua rừng cao su rọi những tia nắng rực rỡ qua làn sương mỏng, mái tóc mượt mà, đen tuyền của Hà tung bay trong gió sớm, ánh sáng dần hồng lên phía chân trời, anh đặt chân máy loay hoay tìm góc chụp, Hà dừng lại bên bãi cỏ xanh, nàng lần lượt thoát y, những tia sáng đầy màu sắc rọi qua tàng lá cao su và màng sương mỏng vượt qua bờ vai tròn trịa tràn lên bầu ngực căng cứng, làm nổi bật núm vú màu hồng hơi chếch một cách thách thức về phía mặt trời, bên dưới bờ eo thon thả nằm giữa cặp đùi trắng mịn, một vùng nhỏ mướt rượt ánh lên màu xanh của ngọc lục bảo. Anh gắn loa che nắng vào đầu ống kính, anh sẽ chụp những bức ảnh ngược mặt trời. Cơ thể của nàng là một kiệt tác, anh cần phải chuyển tải cho được vẻ đẹp thuần khiết mà thượng đế ban cho nàng bằng ngôn ngữ của nghệ thuật. Cây thánh giá bạc lấp lánh trên chiếc cổ cao và trắng ngần, anh thuyết phục để nàng cởi bỏ tất cả trang phục để anh chụp hình nhưng dứt khoát nàng không chịu bỏ cây thánh giá, nàng coi đó là linh vật bất ly thân, nó không chỉ là biểu tượng của tôn giáo, nó còn là biểu tượng của tình yêu - “Một thứ tình yêu cao cả, mà chỉ có người công giáo mới hiểu được!” -Nàng nói với anh như vậy. Lần này anh sẽ chụp những bức ảnh ngược mặt trời.

Những bức ảnh ngược mặt trời – cũng giống như cuộc đời – ngược mặt trời bao giờ cũng sẽ tạo ra những hiệu ứng đối lập, mạnh mẽ, khốc liệt. Anh nhớ câu chuyện làng quê anh nơi anh sinh ra và lớn lên. Thật kỳ lạ! Làng Chạc Chìu của anh cách xứ đạo Hòa Bình này có một ngọn núi, nhưng mọi người ở đây không ai biết và không ai tin là có một làng quê với cái tên kỳ lạ như thế tồn tại bên kia dãy núi. Mọi người quả quyết với anh rằng bên kia núi chỉ là những cánh rừng trùng điệp chạy dài tận biên giới, những người thợ rừng của xứ đạo Hòa Bình này đã đi thật xa qua bên kia núi và chưa thấy có ngôi làng nào như anh chàng “chụp hình dạo” này kể lại. Nhưng đó là ngôi làng có thật, có chính quyền, có trường học, có trạm xá, cùng với vô số chuyện kỳ lạ và Nguyễn Chạc đã lớn lên trong không gian hư ảo, mộng mị, anh đã vượt dãy núi trong ba ngày đêm khi người bạn gái của anh từ chối cuộc sống lúc đang ở tuổi vừa chớm thành thiếu nữ, anh cũng ra đi vào năm tròn tuổi mười bảy, anh quyết tâm rời bỏ xứ sở kỳ quặc ấy. Anh đã ngất đi sau ba ngày mệt lã đói khát và tỉnh dậy trong căn phòng của nữ đan viện của xứ đạo Hòa Bình. Khi khỏe mạnh anh về thành phố học nghề kiếm sống, hơn hai mươi năm sau khi trở thành một nghệ sĩ nhiếp ảnh, khi đã chán thành phố chật hẹp và đông đúc anh quyết định trở lại làng quê của mình, nhưng anh đã không tìm thấy, thật khó hiểu, đó là ngôi làng có chính quyền, có trường học và vô số chuyện kỳ lạ nhưng lại không ai biết và chính anh, anh cũng không tìm ra, anh đã vượt qua ngọn núi khi anh ra đi, nhưng nhiều ngày ở hoàn toàn lạc trong những cánh rừng. Những người thợ rừng, những người thợ săn, cán bộ kiểm lâm, ai cũng lắc đầu cười, khi anh hỏi về làng Chạc Chìu thuộc huyện X. tỉnh Y. Anh hỏi về một người có khả năng nhìn thấy linh hồn và tìm được nhiều ngôi mộ cũng không ai biết, chưa ai từng nghe có người có khả năng như thế. Những người được hỏi đều nhìn anh như kẻ tâm thần. Cuối cùng trong tuyệt vọng anh trèo lại ngọn núi, nơi anh đã đặt chân đến lần đầu và anh đã gặp Hà, xứ đạo hiền lành với những cánh rừng cao su mùa lá rụng vẻ đẹp xơ xác và giả dối đến đau lòng. Anh luôn nhớ lại làng quê của mình, Anh nhớ cơn lốc. 

***

Gió cuồn cuộn, bụi mịt mù, cơn lốc ào ào cuốn tới, xoáy tròn to như con vụ khổng lộ, quay tít từ chân núi Chúa đổ xuống. Chín Toàn đang đứng, cơn lốc bốc ông  lên trời, ông bay như tề thiên đại thánh đang dùng phép cân đẩu vân. Bà Nhàn la í ới:

-         Lốc rừng! Lốc rừng bà con ơi!

       Bà tất tả chạy đến ôm chặt những gốc cây ven đường, những người đàn ông, đàn bà trẻ con chạy trốn vào nhà, cơn lốc cuồn cuộn về phía bờ sông, thân hình bốn chục ký lô của chín Toàn xoay tròn, những người đàn ông, ra khỏi nhà nhìn theo cơn lốc, Bà Nhàn la lên:

-         Hình như có người bị lốc cuốn!

-         Đúng rồi.

Mọi người chạy theo cơn lốc, đến bờ sông cơn lốc còn cố tốc mái rạ của căn chòi mới chịu tan ra trên sông, mọi thứ nó cuốn theo rơi tự do xuống mặt nước.

-         Chín Toàn – Bà Nhàn lại la lên.

     Anh Bảy Danh nhào xuống sông, cánh tay mạnh mẽ sải dài, lát sau anh mang lên người đàn ông nhỏ bé. Mọi người lao xao:

-         Còn sống không?

-         Chín Toàn hả?

-         Tội nghiệp!

-         Hình như còn thở.

Thầy giáo Cư xông lại:

-         Dãn ra đưa anh Chín tới bệnh viện.

Bảy Danh ôm Chín Toàn, Thầy Cư xốc Chín Toàn trên lưng và chạy về phía trạm xá. Mọi người tản ra, lúc này họ mới chú ý đôi trai gái không mảnh vải che thân run cầm cập bên bờ sông. Căn chòi và quần áo của họ đã bị cơn lốc mang đi. Bà Nhàn lại la lên:

- Ai như con vợ thằng Chín Toàn, đồ đĩ, đánh chết cha tụi nó đi!

Hai người định thần và buông nhau lần lượt lao xuống sông, họ bơi vun vút trong tư thế trần truồng như hai con rái cá. Bà Nhàn nhặt cục đất ném theo. Trẻ con có vẻ hứng thú với trò chơi do bà Nhàn khởi đầu, chúng ào ạt nhặt đất ném theo. Ông Hai Đề hét lớn:

- Thôi đi, đừng chơi trò ác đó, kệ người ta, bây giờ có phải thời xưa đâu, ai làm nấy chịu, đi về!

    Những cơn lốc rừng nhiều lần đi qua đây hung hãn và dữ tợn, người dân vốn quen chịu đựng và bao giờ nó cũng bắt đầu từ núi và tan ra trên sông, những lần trước cơn lốc cuốn phăng mái nhà và những căn chòi giữ vịt, nhưng lần này nó cuốn người.

    Đoàn người trở về làng để tiếp tục công việc bỏ dở, Thằng Chạc đi sau cùng với con Chìu, nó thì thào:

-         Mày có thấy con ma trong cơn lốc không?

-         Em có thấy gì đâu?

-         Cơn lốc là do những con ma tạo ra.

-         Thật không?

     -    Thật, khi còn sống bà ngoại tao nói, nếu những cơn lốc nhỏ mình lấy nón lá ụp lại, khi nó đi qua mình giở ra sẽ thấy máu.

     - Ghê quá! Nhưng ở đây em có thấy lốc nhỏ đâu, toàn lốc lớn, ghê quá, người lớn như chú Chín mà còn bị bốc lên, tụi mình gặp nó cũng sẽ bị cuốn.

      - Ừ bà tao nói vì xứ này oan hồn nhiều quá nên chỉ có lốc lớn, nhiều linh hồn di chuyển tạo ra cơn lốc như vậy.

     - Sao nó toàn đi từ núi đến và tan ra trên sông vậy hả anh?

     - Linh hồn tập trung trên núi, lâu lâu họ ra tắm sông.

     - Hí hí, mắc cười quá.                                 

     - Mắc cười gì?

     - Anh tưởng tượng giỏi ghê, linh hồn mà cũng biết tắm.

     - Sao không? Linh hồn cũng từ người mà ra.

     - Sao nhiều linh hồn vậy anh?

     - Bà tao nói vì nước mình quá nhiều người chết, đất nước mình tràn ngập những oan hồn.

     - Sao vậy?

     - Vì chiến tranh, chiến tranh liên miên cả ngàn năm nay, nhiều người còn trẻ, pằng chéo thế là tiêu.

Thằng Chạc nheo mắt đưa tay lên giả làm cây súng.

     - Ghê quá!

     - Ừ ghê lắm, tao thấy ma hoài.

     - Em sợ lắm, không dám thấy.

     - Ừ người nào sợ ma sẽ không được cho thấy.

     - Vậy anh không sợ hả?

     - Hồi nhỏ tao sợ lắm, nhưng bà tao bảo ma hiền lắm, không làm gì mình đâu, trong đó có cả cha mẹ tao, họ chẳng làm hại gì mình đâu.

     - Cha mẹ tao cũng đã bị bắn chết, linh hồn họ vẫn còn nhưng thể xác thì chôn mất rồi.

     - Chôn ở đâu hả anh? – Con Chìu ngớ ngẩn hỏi.

     - Chôn dưới đất chớ ở đâu?

Hai đứa trẻ chạy băng trên cánh đồng, những gốc rạ sau mùa gặt không làm đau được những bàn chân chai sần của những đứa trẻ nông thôn, cơn lốc đi qua nhanh chóng trên vùng đất này và cũng nhanh chóng đi qua trong đầu của những đứa trẻ, chuyện còn lại là của người lớn. Chúng rong chơi hoang dã trên vùng quê hoang dã nhất của thời đại này. Cả làng tin rằng lớn lên chúng là vợ chồng. Chúng cũng tin mình sẽ là vợ chồng. Nhưng...

 

***

     Cơn lốc rừng khốc liệt ấy diễn ra vào buổi sáng sớm, nó diễn ra khá lâu nhưng anh vẫn nhớ như in. Cơn lốc có vẻ trái quy luật tự nhiên, bởi những cơn lốc như vậy thường diễn ra buổi chiều, nhưng lần ấy nó diễn ra buổi sáng sớm. Sau cơn lốc ấy, bao nhiêu chuyện lạ lùng  ở làng quê anh. Thân thể lõa lồ trắng phớ của cô vợ anh Chín Toàn, thoáng qua nhưng ám ảnh mãi trong như giấc mơ của của anh. Lúc ấy, Nguyễn Chạc hãy còn nhỏ, cũng như mọi người, những gì diễn ra trong quãng đời tuổi thơ cứ in mãi trong đầu của anh. Thân thể phụ nữ thật đẹp, anh luôn nghĩ như vậy. Mấy chục năm trôi qua, không biết bao nhiêu thăng trầm, quá khứ chập chờn như sương khói, anh quên nhiều thứ mà anh biết thời gian gần đây, nhưng những gì thuộc về quá khứ anh nhớ rõ mồn một. Anh khẽ mĩm cười thú vị khi nhớ lại một câu rất hay trong bộ phim mà  anh xem trên ti vi “Quá khứ không phải thời gian mà người đời đã sống, mà quá khứ là những khoảnh khắc mà người đời không thể quên được.” Quá khứ của anh, tình yêu của anh, làng quê huyễn hoặc của anh dưới những cơn lốc xoáy, bầu vú quyết liệt và thách thức của chị Chín Toàn chỉa về phía đám đông, trước khi lao xuống dòng sông thì anh không thể quên được.

Anh loay hoay tìm góc máy, Hà trải tấm vải hoa trên thảm cỏ, nàng thong thả và tự nhiên như không hề biết rằng đang trong tư thế Eva. Sự thản nhiên, đầy thánh thiện của Hà khiến anh tràn ngập lòng kính trọng trước nhan sắc của Hà. Chưa một lần, anh chắc chắn như vậy – chưa lần nào gợn một chút dục vọng trước thân thể của nàng. Hà ngồi trên tấm vải hoa, em gặm cành hoa sử quân tử, gương mặt rực rỡ dưới ánh mặt trời. Anh đưa máy lên, chiếc nikon kỹ thuật số hiện đại tách tách tách liên hồi, nhưng khi kiểm tra hình ảnh, anh thất vọng. Đẹp quá, một cái đẹp hoàn hảo. Đó là điều anh không mong đợi khi chọn góc máy ngược mặt trời. Cuộc đời anh, cũng như nghệ thuật, anh không có cảm xúc trước sự hoàn hảo một cách tròn trịa và nhẵn nhụi. Tuổi thơ của anh là những tháng ngày lầm lũi đi ngược mặt trời...

    Mặt trời lên dần, những tia nắng huyền ảo chập chờn trên đám lá vàng, anh và Hà đang đứng trên ngọn đồi thấp, hàng cao su thoải dần về phía bờ suối. Cao su mùa lá rụng mong manh và buồn rầu, những cơn gió lay nhẹ, run rẩy, những chiếc lá vàng hững hờ rơi trên cơ thể lấp lánh của nàng.

- Anh ơi! Em mặc quần áo vào nhé! – Hà lay anh, anh giật mình quay lại, phía dưới chân đầu xuất hiện vài đứa trẻ nhặt cành cây khô và lượm mũ cao su đất. Mũ cao su đất là nghề mưu sinh của những đứa trẻ xứ này. Khi những người thợ cạo mũ ra về với đôi thùng đầy mũ trắng, thì cây cao su vẫn tiếp tục  “rỉ máu” những giọt nhựa trắng tiếp tục chạy xuống lẫn vào đất, bọn trẻ vào rừng rất sớm để nhặt những miếng mũ này mang đi bán. Có khi chúng đi vào ban đêm, quần áo bẩn thỉu mặt mày nhem nhuốc. Đôi khi chúng cũng bị bảo vệ nông trường rượt đuổi. Tuổi thơ của chúng cũng buồn bã như tuổi thơ của anh. Ban ngày chúng mưu sinh, ban đêm cắp những cuốn tập quăn góc đến những lớp học tình thương. Nhìn những đứa trẻ trong rừng cao su bất chợt trong ký ức mù mờ của anh hiện lên những hình ảnh như đoạn phim tư liệu  từng diễn ra trong thời thơ ấu

     Thằng bé sống trong căn nhà tranh, vách đất thơm mùi rợm rạ và đất sét. Chiều cao chưa đến vách ngang của cửa sổ nó đã phải cùng với cậu mình làm việc để nuôi sống gia đình.  Theo lời cậu nó kể lại thì cha nó mất khi mẹ mới mang thai ba tháng, còn  mẹ nó mất khi nó được ba tuổi. Cậu nó nuôi nó từ nhỏ, vợ ông cũng đã chết để lại hai đứa con. Ông ở vậy nuôi cháu, nuôi con và mẹ già. Cậu rất thương nó, những đêm đông lạnh lẽo, nó ngũ với cậu, hai đứa con cậu thì ngủ với bà. Trời lạnh đắp manh chiếu hở đầu, hở đuôi, nó co ro hai chân vào lòng cậu. Ông hát Lục Vân Tiên cho nó nghe, mãi sau này nó vẫn nhớ như in hình ảnh chàng Hớn Minh đầy chất trương phu qua giọng đọc hào sảng của cậu nó.

Đi vừa đến huyện Tây Minh

Gặp con quan huyện Đặng Sinh là chàng.

Giàu sang ỷ thế dọc ngang

Gặp con gái tốt cưỡng gian không nghì.

Tôi bèn nổi giận một khi

Vật chàng xuống đất bẻ đi một giò...

Thật quá đã! Nó cứ nhớ mãi hình ảnh của chàng Hớn Minh bẻ một giò của tay công tử con quan huyện “giàu sang ỷ thế dọc ngang”. Làm người thế mới người chứ. Cậu nó người đàn ông ít học cô độc nhưng thông minh và biết nhiều chuyện, ông vừa là cha, vừa là mẹ vừa là thầy nó, ông dạy lễ nghĩa ở đời, trui rèn cho nó từ khi con nhỏ. Nó và ông là hai lao động chính trong nhà, làm đồng, ông mang nó theo, ông đi cày, nó đi cuốc góc, ông đi bừa nó mang nơm theo để bắt cá, nắng đổ chang chang trên đầu, thằng bé chụp nơm theo quán tính, nó chụp vào chiếc bóng của mình đổ tròn trên ruộng,  mỗi lần nghe cá quẫy, nó đưa bàn tay nhỏ xíu bắt con cá bỏ vào cái giỏ đeo bên hông, nhiều lần nó bị lũ cá trê chích đau thấu xương. Hết mùa làm ruộng nó theo cậu đi rừng,  hàng ngày nó dậy sớm nấu cơm gói trong lá chuối, mang đi rừng ăn với muối mè. Cậu nó dẫn nó đi băng qua các bờ khe các dòng suối, có khi trèo cả lên đỉnh núi Chúa khi thì tìm trái gùi, khi thì trái viết, khi thì chặt củi.  Thằng bé vác bó củi nặng chình chịch trên vai, băng qua trảng tranh  mùa hoa trắng nhức mắt, những tia nắng khốc liệt rọi thẳng vào mặt. Bàn chân bỏng rát phồng rộp, sáng nay ông bảo nó bảo mang dép vào, thằng bé không nghe lời... Người đàn ông đi theo sau, thằng bé ngồi thụp xuống đất, ông  quất đét vào mông nó bằng cây roi nhỏ trên tay. “Hãy đứng lên, hãy nhìn thẳng phía mặt trời mà đi, làm thằng đàn ông mà ngồi xuống trước sự khắc nghiệp là sẽ gục ngã”. Thằng bé gượng đứng lên lê bàn chân bỏng rộp. Hai cậu cháu  nhích từng bước về nơi xuất phát những tia nắng...

-Em mặc quần áo vào nhé – Hà lay nhẹ vai anh.

-Ừ em mặc vào đi! – Anh khẽ khàng nói

- Có tấm ảnh nào vừa ý chưa anh? – Hà vừa choàng áo vừa nghiêng đầu nhìn anh.

- Tất cả đều đẹp nhưng chưa được! – Anh trả lời

Hà nhăn mũi, động tác này của nàng làm anh có cảm giác tim mình rụng xuống.

Họ rời khỏi rừng cao su .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 2: MẮT CỦA RỪNG

 

Một ngày thật buồn! Xóm làng xao xác, những mái nhà lớp là dừa xiêu vẹo, cao su mùa lá rụng trơ xương thảm hại. Hoàng Thạch ủ rủ đếm bước giữa không gian chán chường ấy. Cái xưởng cưa của ông đóng cửa sau tết đến giờ vẫn chưa mở lại. Ông đưa chân đá vào cây bạch đàn ven đường, là người làm cây, ông chúa ghét cây bạch đàn, một loại cây vô cảm và thiếu linh hồn, mới du nhập vào Việt Nam vài chục năm gần đây, nhưng nó lan nhanh như cỏ dại, nhà nhà trồng bạch đàn, người người trồng bạch đàn, chán không thể chịu được! Ông chỉ cưa các loại cây rừng, một hành động mà mấy chục năm sau ông vô cùng hối hận, những khu rừng bạt ngàn được cạo sạch để trồng cây bo bo, một loại lương thực mà ăn để có cảm giác no, ông hiểu vì sao đất nước ông lại nghèo đói như vậy! Lịch sử đất nước ông luôn lập lại những sai lầm không đáng có, nhưng con người không có quyền phán xét lịch sử, không có quyền phán xét tiền nhân! Ông đã phải trả giá khi bị thần rừng trừng phạt. Từ lâu rồi ông là kẻ vô thần, không có một thợ rừng nào coi thần linh ra gì. Không! Chính xác là trước đây ông tin vào thần linh, nhưng cuộc đời đã dạy ông như vậy và ông đã từng tin như vậy. Bàn chân vô thức đưa ông đến trước tượng đài Đức Mẹ Maria trước cổng đan viện Hòa Bình. Pho tượng được xây dựng khá lâu, rêu phong phủ kín, ánh xanh dưới nắng mặt trời. Hoàng Thạch cúi đầu trước tượng đài Đức Mẹ Maria, con người “chọc trời khuấy nước” của ông, trở nên nhỏ bé trước pho tượng người đàn bà có gương mặt hiền từ và không thay đổi cả hai ngàn năm nay.

- Lạy Đức Mẹ, “nếu được xin người hãy cất chén đắng cho con”, xin hãy để con gánh chịu đau khổ cho đứa con gái bé bỏng tội nghiệp của con. – Ông nhắc lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong bốn mươi ngày đêm ngài bị thử thách trên đỉnh núi

Ôi! đứa con gái bé bỏng của ông sinh ra vào thời điểm đói kém, vợ ông ăn rau tàu bay vàng cả mắt, đứa con gái nhăn nheo, ẻo ượt trên bàn tay chai sạn của ông, èo uột lớn lên dưới những cơn đau quằn quại của trái tim bé bỏng. “Con yêu cha!” cô bé sờ lên hàng râu lởm chởm của ông và thì thào. Ông đã lao vào rừng và bằng thứ của “rưng rưng nước mắt” ông chiến đấu giành giật sinh mạng của con gái.

Đứa con gái bé bỏng của ông được sinh ra trong một đêm lạ lùng của đất trời. Khi cô bé cất tiếng khóc chào đời, ông bước ra sân ngước nhìn bầu trời bỗng dưng dãy ngân hà rực sáng, những ngôi sao lấp lánh, như muôn ngàn đôi mắt của Đức Mẹ đồng trinh nhìn xuống trần gian. Ngân Hà! – Ông khẽ kêu lên – tên cô bé : Ngân Hà. Qua những năm đói kém con gái của ông lớn lên và đẹp đẽ lạ thường, sau cơn ngất xỉu đột ngột các bác sĩ kết luận con bé bị bệnh tim bẩm sinh, ông dốc hết tiền bạc để chữa bệnh cho con. Cô con gái vẫn hồn nhiên như trẻ nhỏ, cô thường bảo với cha, cô vẫn bình thường, nhưng ông tin lời các bác sĩ, ông bắt con phải nghỉ học để chữa bệnh. Ông bán hết ruộng nương và vào rừng làm cây, mỗi ngày phải uống loại biệt dược nhập từ nước ngoài về. Cô bé càng lớn càng xinh đẹp, chỉ tội không được đến trường như chúng bạn. Hoàng Lan đứa con gái thứ hai của ông trở thành tu sĩ, để phụng sự công cuộc cứu rỗi của Thiên Chúa trên trần gian, ông mong muốn như vậy, nhưng...

Đưa tay làm dấu thánh sau khi kết thúc bài kinh kính mừng, ông cúi đầu chào Đức Mẹ và đi về phía cánh rừng cuối ngôi làng nhỏ, nơi chưa được thay thế bởi những cánh rừng cao su. Chẳng có gì huyền bí hơn những cánh rừng – ông nghĩ vậy và lầm lủi đi. Ông đi qua khu rừng mùa đông lá vàng rơi lả tả, ông đi qua dòng sông bằng con thuyền bé bỏng của ông già. Ông già chèo đò khoảng ngoài bảy mươi, sớm đời sống tu sĩ biệt lập và liên hệ với con người bằng nghề chèo đò, nhưng trông ông  rất già, già như thể hơn trăm tuổi. Ánh chiều vỡ rực trên dòng sông, nước lấp lánh như dát bằng vàng với muôn ngàn con mắt của rừng lấp lánh trên mặt gương khổng lồ. Khung cảnh huyền ảo này càng liêu trai hơn với hình ảnh ông già da đen như mun, gương mặt hằn lên những nếp nhăn tàn bạo của thời gian và sự khắc khổ, bất chợt ông nhớ cô con gái út Hoàng Hà” đó là đứa con gái được sinh ra khi cuộc sống đã khá giả, con bé có gương mặt đẹp thánh thiện như Đức Mẹ Maria. Ông tin cái tên sẽ vận vào đời người, đôi khi, tất nhiên là đôi khi, chứ không ai có thể mãi dành thời gian cho sự hối hận suốt cuộc sống của mình, đôi khi ông hối hận với cái tên Ngân Hà ông đặt cho cô con gái lớn, ngân là bạc, mà còn có nghĩa là bạc mệnh, bạc bẽo. Con bé ra đời đã chịu sự báo trước cái chết! Bất chợt ông thấu hiểu nỗi đau của chúa Giêsu – cái chết mang đi sự đau đớn, nên nỗi đau của ngài không diễn ra lúc người ta đóng đinh câu rút, mà trước đó khi được báo trước cái chết, ngài đau lắm, sự đau đớn chờ đợi...

- Không! Ngài đau nhất là khi ngài nói với thánh Phêrô học trò của mình rằng: “ Trước khi gà gáy con chối ta ba lần”. Nỗi đau lớn nhất của con người là mất niềm tin.

Ông già chèo đò đột ngột lên tiếng, Hoàng Thạch giật mình quay lại nhìn, không có cảm giác ông vừa nói xong, mắt nhìn về hướng mặt trời, gương mặt im lìm chèo con thuyền về phía hoàng hôn.

- Ông đọc được ý nghĩ của người khác sao? – Hoàng Thạch hỏi

Ông già chèo đò khẽ cười và tiếp tục khua nước.

Thuyền cập bến.

Ông già nhảy lên bờ.

Neo thuyền vào gốc cây.

Mọi việc diễn ra khô khan và im lặng.

Hoàng Thạch quỳ mọp trước mặt ông già:

- Xin kỳ nhân hãy cứu con gái của con!

Ông già lắc đầu:

- Con người có thể làm được nhiều thứ biết được nhiều chuyện nhưng cái chết là bí mật riêng của Chúa con người không can thiệp được!

- Lạy Chúa xin người hãy thương xót cho đứa con gái bé bỏng của con!- Hoàng Thạch làm dấu thánh.

- Lòng tin sẽ giúp con người vượt qua số phận.

Nói xong ông già choàng lên cổ Hoàng Thạch xâu chuổi bằng gỗ trắc treo cây thập giá có hình Chúa GiêSu bị đóng đinh câu rút.

Ông già quay lưng vác mái chèo đi về phía túp lều của mình, vừa đi ông vừa hát bài ca cổ, bài ca nói về tâm trạng của người bỏ xứ ra đi, âm thanh trầm len lỏi trong nền nhạc u u của rừng chiều. Hoàng Thạch vẫn quỳ trên nền lá khô, ông đọc năm mươi lần bài kinh kính mừng, năm mươi kinh lạy cha và năm mươi kinh sáng danh, ông muốn lần chuổi mân côi mười lăm sự thương khó, nhưng ông đã quên mất, lâu lắm rồi ông đâu có đọc kinh. Lần đầu tiên sau ngày lễ thêm sức từ năm mười ba tuổi đến nay ông mới chịu khó đọc kinh, tác động kỳ lạ của ông già chèo đò bên sông trong rừng, khiến ông trỗi dậy lòng tin về Thiên Chúa. Trong những ngày còn đi học, từ kiến thức được cung cấp trong nhà trường, ông hoài nghi người đàn ông đội mũ gai, chịu chết trên núi Sọ vào năm ba mươi ba tuổi. Sự hoài nghi của ông lớn dần theo năm tháng và những khu rừng ngã xuống dưới bàn tay của ông.

Sau khi đọc kinh, ông đi về phía cánh rừng đến với người bạn kỳ dị không kém ông già chèo đò và hôm ấy ông thưởng thức bữa tiệc rượu kỳ lạ mà sẽ phải nhớ suốt đời. Đi ngang qua căn chòi của ông già, ông cúi đầu như đi ngang thánh đường, căn chòi làm bằng cây rừng dưới bóng cây thánh giá khổng lồ. Chính xác đó là nhà nguyện độc lập ông già sống đời sống tu trì theo cách riêng của mình.

Trước khi khu rừng này bị coi là rừng cấm quốc gia thì ông già đã sống ở đó, xứ đạo Hòa Bình ai cũng biết ông và biết mối tình si của ông với một nữ tu sĩ trước khi ông quyết định sống hẳn ở trong rừng, ông từng có cái tên khá đẹp ký dưới những bài thơ đầy nỗi buồn thân phận của con người trong cuộc chiến trước đây, nhưng lâu dần người ta quên mất khi thay thế bằng cái tên dân dã: ông Bảy Đò.

Hoàng Thạch cũng biết Bảy Đò từ lâu, nhưng không ngờ ông đã được mặc khải để thấu thị ý nghĩ của con người.

Hoàng Thạch tiếp tục đi vào rừng, ông đi dễ dàng, bởi rừng bây giờ hoang tàn, không chằng chịt, như ngày xưa. Ông nhớ những ngày hành quân qua khu rừng này dưới những cơn mưa tầm tả của miền Đông. Rừng rậm rạp với cây cối và dây leo, cơn mưa miền Đông dập tắt chút ánh sáng ít ỏi của hoàng hôn len qua những tàng lá rậm rịt, gã trung sĩ luôn miệng nhắc nhở mọi người cẩn trọng kẻo sập hầm chông, gã nói giọng Bắc không chuẩn của dân di cư. Những cuộc hành quân nhọc nhằn và mệt thấu gan, những người lính giấu mặt sau rừng rậm từ phía bên kia có thể tỉa những phát đạn chính xác về phía những người lính trẻ phía bên này. Không như phía bên kia, họ chiến đấu và sẵn sàng chết vì lý tưởng, còn Hoàng Thạch và những đồng đội của anh chán chường cuộc chiến chết tiệt này, nó phá vỡ cuộc sống bình yên. Hoàng Thạch và những đồng đội của ông còn rất trẻ, đó là nỗi khỗ lớn, chiến tranh, bắn giết, hận thù, không làm nguôi nỗi khao khát đàn bà. Nhiều đêm nghe giọng hát ướt sủng của cô ca sĩ trên đài “Sao không hát cho những người còn mải mê, lá rừng che kín đường về phồn hoa”(Rừng lá thấp – Trần Thiện Thanh) nhiều anh lính trẻ khóc sướt mướt.

Hơ..ơ..! Hoàng Thạch khẽ cười khi ông chợt nghĩ ra một triết lý vặt:“Con người là vậy thôi, khi quyền lợi được chia một cách hợp lý thì kẻ thù sẽ trở thành bạn!”. Nhờ những ngày hành quân gian khổ, ông hiểu rõ cánh rừng này như lòng bàn tay và khi cuộc chiến kết thúc, ông đã trở lại rừng để kiếm tiền từ rừng, tất nhiên ông có được sự hợp tác của những người phía bên kia mà trước đây ông từng săn lùng họ và họ cũng tìm mọi cách để tiêu diệt ông. Sự hợp tác hoàn toàn tốt đẹp, chứ không phải như sau này gọi là tiêu cực, vì thời ấy phá rừng là bình thường, mãi chục năm sau chuyện ấy mới trở nên nghiêm trọng, thời ấy phá rừng có khi còn được khuyến khích. “Ta về đây phá rừng hoang...”Ông nhớ lời bài hát khi mọi người tổ chức phá rừng, từng đoàn người hừng hực khí thế, cờ xí rợp trời, loa đài rộn rã, kéo nhau đi phá rừng để, đào kênh thủy lợi, để trồng bo bo một loài lương thực khi ăn xóa đi cảm giác đói chứ không tiêu hóa được. Để hòa nhập chế độ mới ông cũng xung phong đi phá rừng, đi lao động và cũng hô vang khẩu hiệu: “Thằng trời đứng lại một bên, để cho thủy lợi đi lên hàng đầu”. Sau mấy tháng tiếp nhận tư tưởng mới, ông về nhà mang bàn thờ Thiên Chúa ném ra sân, vợ ông len lén mang cây thánh giá vô giấu trong buồng và đêm đêm âm thầm đọc kinh. Trong những năm tháng ấy Ngân Hà, con gái bé bỏng đau ốm của ông ra đời. Vợ ông khóc thật nhiều và cầu nguyện thật nhiều.

Miên man hồi ức Hoàng Thạch đã đến nơi ông cần đến, trước khi mặt trời kịp rụng xuống bên kia sông

 

 

 


BẠN ĐỌC HOÀNG HẠC TẶNG NGUYỄN MỘT

 

Thời gian qua Nguyễn Một nhận được nhiều sự chia sẻ từ bạn đọc, nồng nhiệt nhất là anh Hoàng Hạc – người đã trao đổi nhiều lần qua email và tặng thơ cho tôi. Xin phép anh tôi đưa vài dòng tâm sự và bài thơ anh lên blogs.

Đọc cuốn đất trời vần vũ của anh tôi đã thấy tất cả cuộc sống này chỉ là ảo chỉ có phần thứ 2 mới là điều đáng nói và ai là người dám đi tìm sự thật đó . Hiện tại chỉ là điều mà chúng ta phải trả cho cái thân xác bọt bèo này .Cái quý giá nhất là cái của sự ra đi vào cỏi vỉnh hằng mà đón nhận sự hạnh phúc khi ra đi ko ân hận có phải ko anh. tôi chờ sự chia sẻ từ anh . Tôi cũng có viết một vài suy nghĩ mà ko dám nói lên hay đúng hơn ko biết có ai dọc và cho ý kiến dùm. Kính chúc anh hạnh phúc an bằng trong tâm hồn.

 

hiển thị chi tiết 13:30 (21 giờ trước)

 

Kinh: Tặng A

                       MAI TRỞ VỀ

     MAI TRỞ VỀ DUY XUYÊN RỒi ĐÓ ANH

     BẾN SÔNG XƯA HOA GẠO ĐỎ KHÔNG CÒN

     TRỜI MỸ SƠN NẮNG NGÃ VÀNG HIU HẮT

     DỌC ĐƯỜNG VỀ HOA TÍM TRÃI MÊNH MÔNG

    

     XÓM NHÀ NHỎ MÔT THỜI ĐÃ SỐNG

    CỎ LÊN XANH KHUẤT LẤP DẤU XƯA RỒI

     KỂ TỪ NGẢY LỬA BINH MỜ XUYÊN PHÚ

     NƯỚC MẮT AI RƠI ƯỚT BUỔI GIẢ TỪ

   

     BẠN BÂY GIỜ PHƯƠNG TRỜI XA VỜI VỢI

     CÓ KHI NAO CHẠNH NHỚ BUỔI ẤU THỜI

     NHỚ NGÔI TRƯỜNG MÁI ĐỎ TUỔI THƠ

     CÂY PHƯỢNG GIÀ SAO KẾT TRÁI MỖI MÙA THU

    

     RỒI TRỞ VỀ TRONG MÙA ĐÔNG GIÁ RÉT

     THOÁNG NGỠ NGÀNG TRƯỚC NÉT ĐẸP KIÊU SA

       NHƯ NÀNG KIỀU ĐANG KHOE SẮC

        MÀ TRONG DẠ LÀ MỘT KHỐI < K > *

                   HOÀNG HAC .

(*) Chỗ này tôi không hiểu, nhưng tôn trọng anh tôi để nguyên văn


TIN LIÊN QUAN ĐẾN ĐẤT TRỜI VẦN VŨ

 

BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM BÌNH CHỌN TÁC PHẨM DỰ GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á NĂM 2011

 

Ngày 12.9.2011, tại Hội trường Hội nhà văn Việt Nam, BCH Hội nhà văn Việt Nam đã có phiên họp ngay sau khi kết thúc Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII. Đến dự có 15/15 thành viên BCH gồm các nhà văn, nhà thơ: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Lê Quang Trang, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thị Thu Huệ, Khuất Quang Thuỵ, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Hoa, Đình Kính, Đào Thắng, Trần Đức Tiến, Phan Trọng Thưởng, Võ Thị Xuân Hà, Văn Công Hùng, Vũ Hồng.

 

Xem hình


Nhận xét về công tác tổ chức Hội nghị viết văn trẻ vừa qua tại tỉnh Tuyên Quang, BCH Hội nhận định rằng: Ý thức trách nhiệm và ý thức văn hoá hội nghị của các đại biểu trẻ khi đến dự rất cao. Các đại biểu trẻ biết tôn trọng bạn bè, đồng nghiệp mỗi khi bạn bè, đồng nghiệp đăng đàn phát biểu hoặc trình bày tham luận. Các đại biểu trẻ có nhiều ý kiến tranh luận xác đáng, thẳng thắn, không né tránh các vấn đề về nghề. Các đại biểu trẻ rất chủ động trong việc giao lưu văn học với địa phương đăng cai cũng như giữa các Đoàn đại biểu. Các thành viên Ban nhà văn trẻ đầy đủ bản lĩnh để điều hành hội nghị, từ công tác nhân sự cho đến chuẩn bị nội dung hội nghị và các buổi toạ đàm. Bên cạnh đó, lực lượng Văn phòng Hội đã lo chu đáo công tác hậu cần phục vụ hội nghị cho dù hội nghị phải di chuyển qua rất nhiều nơi như Hà Nội, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Kết thúc hội nghị không có chuyện gì sai phạm dù là nhỏ nhất.

 

 

BCH Hội đã biểu quyết thống nhất ý kiến sẽ trao tặng Bằng khen cho Ban nhà văn trẻ và Văn phòng Hội nhà văn Việt Nam.

  

Chiều cùng ngày, BCH Hội cũng đã có phiên họp bầu chọn tác phẩm dự Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2011. Theo quy chế đề ra, tiêu chuẩn để lựa chọn tác phẩm xét giải Đông Nam Á như sau: Tác phẩm phải là nguyên bản; Tác phẩm cần có nội dung liên quan đến dân tộc hoặc khu vực mà tác giả đang sống; Tác phẩm phải có giá trị văn học xuất sắc thuộc các thể loại: văn xuôi, tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ; Những tác phẩm đã đoạt các giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam trong vòng 3 năm trở lại; Tác giả bằng sáng tác của mình phải có những đóng góp cho sự phát triển văn hoá và văn học của nước mình.

  

Theo đó, BCH đã chọn ra 17 tác phẩm để bình xét và bỏ phiếu kín. Kết quả, tiểu thuyết "Tiếng khóc của nàng Út" của nhà văn Nguyễn Chí Trung đã được chọn để dự Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2011. Tiểu thuyết này đã đoạt Giải thưởng Văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm 2008.

  

17 TÁC PHẨM ĐƯỢC CHỌN ĐỂ BÌNH XÉT GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC ĐÔNG NAM Á NĂM 2011

 

1)- Tiếng khóc của nàng Út - tiểu thuyết - Nguyễn Chí Trung (Giải thưởng Văn học năm 2008) 
2)- Sóng chìm - tiểu thuyết - Đình Kính (Giải thưởng Văn học năm 2008) 
3)- Dị hương - tập truyện ngắn - Sương Nguyệt Minh (Giải thưởng Văn học năm 2010) 
4)- Hội thề - tiểu thuyết - Nguyễn Quang Thân (Giải A cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
5)- Chân trời mùa hạ - tiểu thuyết - Hữu Phương (Giải B cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
6)- Vùng lõm - tiểu thuyết - Nguyễn Quang Hà (Giải B cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
7)- Quyên - tiểu thuyết - Nguyễn Văn Thọ (Giải B cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
8)- Lửa đắng - tiểu thuyết - Nguyễn Bắc Sơn (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
9)- Heo may về (Gió chuyển mùa) - tiểu thuyết - Đỗ Thị Hiền Hoà (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
10)- Xiêng Khoảng mù sương - tiểu thuyết - Bùi Bình Thi (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
11)- Thần thánh và bươm bướm - tiểu thuyết - Đỗ Minh Tuấn (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
12)- Biết đâu địa ngục thiên đường - tiểu thuyết - Nguyễn Khắc Phê (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
13)- Xuân từ chiều - tiểu thuyết - Y Ban 
14)- Đêm Sài Gòn không ngủ - tiểu thuyết - Trầm Hương (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
15)- Thức giấc - tiểu thuyết - Thuỳ Dương (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009)
16)- Đất trời vần vũ - tiểu thuyết - Nguyễn Một (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 
17)- Những cánh hoa lòng (Dòng sông chết) - tiểu thuyết - Thiên Sơn (Giải C cuộc thi tiểu thuyết 2006-2009) 

theo Tạp chí nhà văn và phongdiep.net


GIỚI THIỆU CHƯƠNG 1 CỦA TIỂU THUYẾT MỚI "ĐI NGƯỢC MẶT TRỜI" CỦA NGUYỄN MỘT, DỰ ĐỊNH XUẤT BẢN NĂM 2012

 

Chương 1

 

Cỏ vẫn còn ướt đẫm sương đêm, mượt như nhung, mùi dịu ngọt của hoa mùa xuân, mùi ngai ngái của lá cao su mục, mùi đất đỏ găn gắt, tạo ra hương vị đặc trưng của vùng bán cao nguyên bazan màu mỡ, ngút ngàn cao su, mê hoặc anh ngay lần đầu đặt chân đến đây. Tất nhiên sự mê hoặc không thể không kể đến Hà, người con gái xứ đạo ven rừng cao su mà anh gặp trong chuyến lang thang trong đêm giáng sinh rực rỡ ánh đèn từ những ngôi nhà  yên lành của xóm đạo. Hà đẹp, anh gọi một cách ngắn gọn để không phải mô tả những chi tiết như chân dài, eo thon, ngực nở, má đỏ môi hồng, bởi anh là nhiếp ảnh gia, chứ không phải nhà văn, ngôn ngữ nghệ thuật của anh là ánh sáng.

Anh nặng nhọc bước lên con dốc mịn mượt cỏ với vô số công cụ nhiếp ảnh trên người. Hà tung tăng phía trước, nàng nhẹ nhàng như lướt trên cỏ, kiểu đi mà anh hay đùa là“ tiên nữ hái đào”. Mặt trời ló dạng qua rừng cao su rọi những tia nắng rực rỡ qua làn sương mỏng, mái tóc mượt mà, đen tuyền của Hà tung bay trong gió sớm, ánh sáng dần hồng lên phía chân trời, anh đặt chân máy loay hoay tìm góc chụp, Hà dừng lại bên bãi cỏ xanh, nàng lần lượt thoát y, những tia sáng đầy màu sắc rọi qua tàng lá cao su và màng sương mỏng vượt qua bờ vai tròn trịa tràn lên bầu ngực căng cứng, làm nổi bật núm vú màu hồng hơi chếch một cách thách thức về phía mặt trời, bên dưới bờ eo thon thả nằm giữa cặp đùi trắng mịn, một vùng nhỏ mướt rượt ánh lên màu xanh của ngọc lục bảo. Anh gắn loa che nắng vào đầu ống kính, anh sẽ chụp những bức ảnh ngược mặt trời. Cơ thể của nàng là một kiệt tác, anh cần phải chuyển tải cho được vẻ đẹp thuần khiết mà thượng đế ban cho nàng bằng ngôn ngữ của nghệ thuật. Cây thánh giá bạc lấp lánh trên chiếc cổ cao và trắng ngần, anh thuyết phục để nàng cởi bỏ tất cả trang phục để anh chụp hình nhưng dứt khoát nàng không chịu bỏ cây thánh giá, nàng coi đó là linh vật bất ly thân, nó không chỉ là biểu tượng của tôn giáo, nó còn là biểu tượng của tình yêu - “Một thứ tình yêu cao cả, mà chỉ có người công giáo mới hiểu được!” -Nàng nói với anh như vậy. Lần này anh sẽ chụp những bức ảnh ngược mặt trời.

Những bức ảnh ngược mặt trời – cũng giống như cuộc đời – ngược mặt trời bao giờ cũng sẽ tạo ra những hiệu ứng đối lập, mạnh mẽ, khốc liệt. Anh nhớ câu chuyện làng quê anh nơi anh sinh ra và lớn lên. Thật kỳ lạ! Làng Chạc Chìu của anh cách xứ đạo Hòa Bình này có một ngọn núi, nhưng mọi người ở đây không ai biết và không ai tin là có một làng quê với cái tên kỳ lạ như thế tồn tại bên kia dãy núi. Mọi người quả quyết với anh rằng bên kia núi chỉ là những cánh rừng trùng điệp chạy dài tận biên giới, những người thợ rừng của xứ đạo Hòa Bình này đã đi thật xa qua bên kia núi và chưa thấy có ngôi làng nào như anh chàng “chụp hình dạo” này kể lại. Nhưng đó là ngôi làng có thật, có chính quyền, có trường học, có trạm xá, cùng với vô số chuyện kỳ lạ và Nguyễn Chạc đã lớn lên trong không gian hư ảo, mộng mị, anh đã vượt dãy núi trong ba ngày đêm khi người bạn gái của anh từ chối cuộc sống lúc đang ở tuổi vừa chớm thành thiếu nữ, anh cũng ra đi vào năm tròn tuổi mười bảy, anh quyết tâm rời bỏ xứ sở kỳ quặc ấy. Anh đã ngất đi sau ba ngày mệt lã đói khát và tỉnh dậy trong căn phòng của nữ đan viện của xứ đạo Hòa Bình. Khi khỏe mạnh anh về thành phố học nghề kiếm sống, hơn hai mươi năm sau khi trở thành một nghệ sĩ nhiếp ảnh, khi đã chán thành phố chật hẹp và đông đúc anh quyết định trở lại làng quê của mình, nhưng anh đã không tìm thấy, thật khó hiểu, đó là ngôi làng có chính quyền, có trường học và vô số chuyện kỳ lạ nhưng lại không ai biết và chính anh, anh cũng không tìm ra, anh đã vượt qua ngọn núi khi anh ra đi, nhưng nhiều ngày ở hoàn toàn lạc trong những cánh rừng. Những người thợ rừng, những người thợ săn, cán bộ kiểm lâm, ai cũng lắc đầu cười, khi anh hỏi về làng Chạc Chìu thuộc huyện X. tỉnh Y. Anh hỏi về một người có khả năng nhìn thấy linh hồn và tìm được nhiều ngôi mộ cũng không ai biết, chưa ai từng nghe có người có khả năng như thế. Những người được hỏi đều nhìn anh như kẻ tâm thần. Cuối cùng trong tuyệt vọng anh trèo lại ngọn núi, nơi anh đã đặt chân đến lần đầu và anh đã gặp Hà, xứ đạo hiền lành với những cánh rừng cao su mùa lá rụng vẻ đẹp xơ xác và giả dối đến đau lòng. Anh luôn nhớ lại làng quê của mình, Anh nhớ cơn lốc.

***

Gió cuồn cuộn, bụi mịt mù, cơn lốc ào ào cuốn tới, xoáy tròn to như con vụ khổng lộ, quay tít từ chân núi Chúa đổ xuống. Chín Toàn đang đứng, cơn lốc bốc ông  lên trời, ông bay như tề thiên đại thánh đang dùng phép cân đẩu vân. Bà Nhàn la í ới:

-         Lốc rừng! Lốc rừng bà con ơi!

       Bà tất tả chạy đến ôm chặt những gốc cây ven đường, những người đàn ông, đàn bà trẻ con chạy trốn vào nhà, cơn lốc cuồn cuộn về phía bờ sông, thân hình bốn chục ký lô của chín Toàn xoay tròn, những người đàn ông, ra khỏi nhà nhìn theo cơn lốc, Bà Nhàn la lên:

-         Hình như có người bị lốc cuốn!

-         Đúng rồi.

Mọi người chạy theo cơn lốc, đến bờ sông cơn lốc còn cố tốc mái rạ của căn chòi mới chịu tan ra trên sông, mọi thứ nó cuốn theo rơi tự do xuống mặt nước.

-         Chín Toàn – Bà Nhàn lại la lên.

     Anh Bảy Danh nhào xuống sông, cánh tay mạnh mẽ sải dài, lát sau anh mang lên người đàn ông nhỏ bé. Mọi người lao xao:

-         Còn sống không?

-         Chín Toàn hả?

-         Tội nghiệp!

-         Hình như còn thở.

Thầy giáo Cư xông lại:

-         Dãn ra đưa anh Chín tới bệnh viện.

Bảy Danh ôm Chín Toàn, Thầy Cư xốc Chín Toàn trên lưng và chạy về phía trạm xá. Mọi người tản ra, lúc này họ mới chú ý đôi trai gái không mảnh vải che thân run cầm cập bên bờ sông. Căn chòi và quần áo của họ đã bị cơn lốc mang đi. Bà Nhàn lại la lên:

- Ai như con vợ thằng Chín Toàn, đồ đĩ, đánh chết cha tụi nó đi!

Hai người định thần và buông nhau lần lượt lao xuống sông, họ bơi vun vút trong tư thế trần truồng như hai con rái cá. Bà Nhàn nhặt cục đất ném theo. Trẻ con có vẻ hứng thú với trò chơi do bà Nhàn khởi đầu, chúng ào ạt nhặt đất ném theo. Ông Hai Đề hét lớn:

- Thôi đi, đừng chơi trò ác đó, kệ người ta, bây giờ có phải thời xưa đâu, ai làm nấy chịu, đi về!

    Những cơn lốc rừng nhiều lần đi qua đây hung hãn và dữ tợn, người dân vốn quen chịu đựng và bao giờ nó cũng bắt đầu từ núi và tan ra trên sông, những lần trước cơn lốc cuốn phăng mái nhà và những căn chòi giữ vịt, nhưng lần này nó cuốn người.

    Đoàn người trở về làng để tiếp tục công việc bỏ dở, Thằng Chạc đi sau cùng với con Chìu, nó thì thào:

-         Mày có thấy con ma trong cơn lốc không?

-         Em có thấy gì đâu?

-         Cơn lốc là do những con ma tạo ra.

-         Thật không?

     -    Thật, khi còn sống bà ngoại tao nói, nếu những cơn lốc nhỏ mình lấy nón lá ụp lại, khi nó đi qua mình giở ra sẽ thấy máu.

     - Ghê quá! Nhưng ở đây em có thấy lốc nhỏ đâu, toàn lốc lớn, ghê quá, người lớn như chú Chín mà còn bị bốc lên, tụi mình gặp nó cũng sẽ bị cuốn.

      - Ừ bà tao nói vì xứ này oan hồn nhiều quá nên chỉ có lốc lớn, nhiều linh hồn di chuyển tạo ra cơn lốc như vậy.

     - Sao nó toàn đi từ núi đến và tan ra trên sông vậy hả anh?

     - Linh hồn tập trung trên núi, lâu lâu họ ra tắm sông.

     - Hí hí, mắc cười quá.                                 

     - Mắc cười gì?

     - Anh tưởng tượng giỏi ghê, linh hồn mà cũng biết tắm.

     - Sao không? Linh hồn cũng từ người mà ra.

     - Sao nhiều linh hồn vậy anh?

     - Bà tao nói vì nước mình quá nhiều người chết, đất nước mình tràn ngập những oan hồn.

     - Sao vậy?

     - Vì chiến tranh, chiến tranh liên miên cả ngàn năm nay, nhiều người còn trẻ, pằng chéo thế là tiêu.

Thằng Chạc nheo mắt đưa tay lên giả làm cây súng.

     - Ghê quá!

     - Ừ ghê lắm, tao thấy ma hoài.

     - Em sợ lắm, không dám thấy.

     - Ừ người nào sợ ma sẽ không được cho thấy.

     - Vậy anh không sợ hả?

     - Hồi nhỏ tao sợ lắm, nhưng bà tao bảo ma hiền lắm, không làm gì mình đâu, trong đó có cả cha mẹ tao, họ chẳng làm hại gì mình đâu.

     - Cha mẹ tao cũng đã bị bắn chết, linh hồn họ vẫn còn nhưng thể xác thì chôn mất rồi.

     - Chôn ở đâu hả anh? – Con Chìu ngớ ngẩn hỏi.

     - Chôn dưới đất chớ ở đâu?

Hai đứa trẻ chạy băng trên cánh đồng, những gốc rạ sau mùa gặt không làm đau được những bàn chân chai sần của những đứa trẻ nông thôn, cơn lốc đi qua nhanh chóng trên vùng đất này và cũng nhanh chóng đi qua trong đầu của những đứa trẻ, chuyện còn lại là của người lớn. Chúng rong chơi hoang dã trên vùng quê hoang dã nhất của thời đại này. Cả làng tin rằng lớn lên chúng là vợ chồng. Chúng cũng tin mình sẽ là vợ chồng. Nhưng...

 

***

     Cơn lốc rừng khốc liệt ấy diễn ra vào buổi sáng sớm, nó diễn ra khá lâu nhưng anh vẫn nhớ như in. Cơn lốc có vẻ trái quy luật tự nhiên, bởi những cơn lốc như vậy thường diễn ra buổi chiều, nhưng lần ấy nó diễn ra buổi sáng sớm. Sau cơn lốc ấy, bao nhiêu chuyện lạ lùng  ở làng quê anh. Thân thể lõa lồ trắng phớ của cô vợ anh Chín Toàn, thoáng qua nhưng ám ảnh mãi trong như giấc mơ của của anh. Lúc ấy, Nguyễn Chạc hãy còn nhỏ, cũng như mọi người, những gì diễn ra trong quãng đời tuổi thơ cứ in mãi trong đầu của anh. Thân thể phụ nữ thật đẹp, anh luôn nghĩ như vậy. Mấy chục năm trôi qua, không biết bao nhiêu thăng trầm, quá khứ chập chờn như sương khói, anh quên nhiều thứ mà anh biết thời gian gần đây, nhưng những gì thuộc về quá khứ anh nhớ rõ mồn một. Anh khẽ mĩm cười thú vị khi nhớ lại một câu rất hay trong bộ phim mà  anh xem trên ti vi “Quá khứ không phải thời gian mà người đời đã sống, mà quá khứ là những khoảnh khắc mà người đời không thể quên được.” Quá khứ của anh, tình yêu của anh, làng quê huyễn hoặc của anh dưới những cơn lốc xoáy, bầu vú quyết liệt và thách thức của chị Chín Toàn chỉa về phía đám đông, trước khi lao xuống dòng sông thì anh không thể quên được.

Anh loay hoay tìm góc máy, Hà trải tấm vải hoa trên thảm cỏ, nàng thong thả và tự nhiên như không hề biết rằng đang trong tư thế Eva. Sự thản nhiên, đầy thánh thiện của Hà khiến anh tràn ngập lòng kính trọng trước nhan sắc của Hà. Chưa một lần, anh chắc chắn như vậy – chưa lần nào gợn một chút dục vọng trước thân thể của nàng. Hà ngồi trên tấm vải hoa, em gặm cành hoa sử quân tử, gương mặt rực rỡ dưới ánh mặt trời. Anh đưa máy lên, chiếc nikon kỹ thuật số hiện đại tách tách tách liên hồi, nhưng khi kiểm tra hình ảnh, anh thất vọng. Đẹp quá, một cái đẹp hoàn hảo. Đó là điều anh không mong đợi khi chọn góc máy ngược mặt trời. Cuộc đời anh, cũng như nghệ thuật, anh không có cảm xúc trước sự hoàn hảo một cách tròn trịa và nhẵn nhụi. Tuổi thơ của anh là những tháng ngày lầm lũi đi ngược mặt trời...

    Mặt trời lên dần, những tia nắng huyền ảo chập chờn trên đám lá vàng, anh và Hà đang đứng trên ngọn đồi thấp, hàng cao su thoải dần về phía bờ suối. Cao su mùa lá rụng mong manh và buồn rầu, những cơn gió lay nhẹ, run rẩy, những chiếc lá vàng hững hờ rơi trên cơ thể lấp lánh của nàng.

- Anh ơi! Em mặc quần áo vào nhé! – Hà lay anh, anh giật mình quay lại, phía dưới chân đầu xuất hiện vài đứa trẻ nhặt cành cây khô và lượm mũ cao su đất. Mũ cao su đất là nghề mưu sinh của những đứa trẻ xứ này. Khi những người thợ cạo mũ ra về với đôi thùng đầy mũ trắng, thì cây cao su vẫn tiếp tục  “rỉ máu” những giọt nhựa trắng tiếp tục chạy xuống lẫn vào đất, bọn trẻ vào rừng rất sớm để nhặt những miếng mũ này mang đi bán. Có khi chúng đi vào ban đêm, quần áo bẩn thỉu mặt mày nhem nhuốc. Đôi khi chúng cũng bị bảo vệ nông trường rượt đuổi. Tuổi thơ của chúng cũng buồn bã như tuổi thơ của anh. Ban ngày chúng mưu sinh, ban đêm cắp những cuốn tập quăn góc đến những lớp học tình thương. Nhìn những đứa trẻ trong rừng cao su bất chợt trong ký ức mù mờ của anh hiện lên những hình ảnh như đoạn phim tư liệu  từng diễn ra trong thời thơ ấu

     Thằng bé sống trong căn nhà tranh, vách đất thơm mùi rợm rạ và đất sét. Chiều cao chưa đến vách ngang của cửa sổ nó đã phải cùng với cậu mình làm việc để nuôi sống gia đình.  Theo lời cậu nó kể lại thì cha nó mất khi mẹ mới mang thai ba tháng, còn  mẹ nó mất khi nó được ba tuổi. Cậu nó nuôi nó từ nhỏ, vợ ông cũng đã chết để lại hai đứa con. Ông ở vậy nuôi cháu, nuôi con và mẹ già. Cậu rất thương nó, những đêm đông lạnh lẽo, nó ngũ với cậu, hai đứa con cậu thì ngủ với bà. Trời lạnh đắp manh chiếu hở đầu, hở đuôi, nó co ro hai chân vào lòng cậu. Ông hát Lục Vân Tiên cho nó nghe, mãi sau này nó vẫn nhớ như in hình ảnh chàng Hớn Minh đầy chất trương phu qua giọng đọc hào sảng của cậu nó. Ông vừa là cha, vừa là mẹ vừa là thầy nó, ông dạy lễ nghĩa ở đời, trui rèn cho nó từ khi con nhỏ. Nó và ông là hai lao động chính trong nhà, làm đồng, ông mang nó theo, ông đi cày nó đi cuốc góc, ông đi bừa nó mang nơm theo để bắt cá, nắng đổ chang chang trên đầu, thằng bé chụp nơm theo quán tính, nó chụp vào chiếc bóng của mình đổ tròn trên ruộng,  mỗi lần nghe cá quẫy, nó đưa bàn tay nhỏ xíu bắt con cá bỏ vào cái giỏ đeo bên hông, nhiều lần nó bị lũ cá trê chích đau thấu xương. Hết mùa làm ruộng nó theo cậu đi rừng,  hàng ngày nó dậy sớm nấu cơm gói trong lá chuối, mang đi rừng ăn với muối mè. Cậu nó dẫn nó đi băng qua các bờ khe các dòng suối, có khi trèo cả lên đỉnh núi Chúa khi thì tìm trái gùi, khi thì trái viết, khi thì chặt củi.  Thằng bé vác bó củi nặng chình chịch trên vai, băng qua trảng tranh  mùa hoa trắng nhức mắt, những tia nắng khốc liệt rọi thẳng vào mặt. Bàn chân bỏng rát phồng rộp, sáng nay ông bảo nó bảo mang dép vào, thằng bé không nghe lời... Người đàn ông đi theo sau, thằng bé ngồi thụp xuống đất, ông  quất đét vào mông nó bằng cây roi nhỏ trên tay. “Hãy đứng lên, hãy nhìn thẳng phía mặt trời mà đi, làm thằng đàn ông mà ngồi xuống trước sự khắc nghiệp là sẽ gục ngã”. Thằng bé gượng đứng lên lê bàn chân bỏng rộp. Hai cậu cháu  nhích từng bước về nơi xuất phát những tia nắng...

-Em mặc quần áo vào nhé – Hà lay nhẹ vai anh.

-Ừ em mặc vào đi! – Anh khẽ khàng nói

- Có tấm ảnh nào vừa ý chưa anh? – Hà vừa choàng áo vừa nghiêng đầu nhìn anh.

- Tất cả đều đẹp nhưng chưa được! – Anh trả lời

Hà nhăn mũi, động tác này của nàng làm anh có cảm giác tim mình rụng xuống.

Họ rời khỏi rừng cao su và anh có cảm giác có những cặp mắt đang theo dõi hai người.

 

 


TRUYỆN THIẾU NHI CỦA NGUYỄN MỘT (BÚT DANH DẠ THẢO LINH)

  Món quà đầu năm học !

 

 

* Truyện ngắn DẠ THẢO LINH

 

Ngày mai là ngày khai trường, đến sáng hôm nay, Thu mới được ngoại cho lên xe về nhà. Những ngày ở quê ngoại thật là thích. Ngày mai, Thu sẽ kể cho đám bạn của Thu nghe những ngày hè của mình, chắc là tụi nó sẽ mê tít cho mà xem. Chưa năm nào Thu mong tới ngày khai trường như năm nay, có lẽ một phần vì Thu vào ngưỡng cửa cấp hai, nhưng phần lớn là vì lời hứa của ba : “Năm nay, nếu con đứng nhất lớp, sang năm ba sẽ cho con một chiếc xe đạp !”. Hồi cuối năm, Thu sung sướng đến chảy nước mắt khi hiệu trưởng trao cho Thu phần thưởng học sinh xuất sắc hạng nhất.

Chắc là giờ này ở nhà đã có chiếc xe đạp mới rồi. Thu chẳng thích đi chung với chị Mai tí nào. Chị Mai học trên Thu hai lớp mà cứ như người lớn, lúc nào mở miệng ra là dạy đời : Nào là con gái phải dịu dàng, nào là con gái không được ăn quà vặt… Nghe phát ghét. Thu thích đi con đường thẳng mới làm, còn chị Mai lại thích đi con đường nhỏ dẫn qua khu nhà bà Bảy. Chị bảo :

 - Đi đường mới chán thấy mồ, đường gì mà thẳng là thẳng và nắng chang chang, chẳng có được một bông hoa để hái nữa.

Thu đâu thích hoa. Thu chỉ thích gian hàng của bà Thành trên con đường mới, có bán món que dầm, thấy là thèm…

- Có ai xuống ngã ba Tân Phong không ? – Tiếng anh lơ xe oang oang át tiếng máy nổ.

Thu giật mình :

- Xuống ! Cho con xuống !

Thu ngơ ngác nhìn quanh xem thử có ai đón mình về nhà không ? Chờ mãi, hơn nửa giờ không thấy ai, Thu tức muốn khóc. Vừa lúc đó, bác Ba ở gần nhà đi chợ về gặp Thu :

- Kìa Thu, con mới từ nhà ngoại về hả ? Lên đây bác chở về ! Mẹ con đang bị bệnh ở nhà !

- Ủa, mẹ con sao bị bệnh vậy bác ?

- Ừ, mẹ con bệnh cả tháng nay !

Trên đường về Thu cứ bồn chồn. Mẹ bệnh có nặng lắm không ? Sao mẹ không gởi thư cho Thu ? Tội nghiệp mẹ, chắc mẹ sợ Thu buồn.

- A, chị Thu về ! Chị Thu về tụi bây ơi !

Thằng cu Đông reo lên. Cu Nhật, bé Huyền ùa ra vây quanh Thu. Chúng nó giật túi xách của Thu để tìm quà của ngoại. Thu lao vào giường của mẹ :

- Mẹ ! Mẹ !

- Thu đó hả con ? Nghỉ hè vui không ? Ngoại có khỏe không con ? – Giọng mẹ yếu ớt.

- Dạ, ngoại khỏe. Mẹ bệnh hả mẹ ?

- Mẹ sắp khỏe rồi. Con nghỉ cho khỏe, mai đi học !

Thu đưa mắt nhìn quanh tìm chiếc xe đạp mà ba đã hứa. Thu thấy chiếc xe dạp màu xanh dương còn mới dựng trong góc nhà. Thu hôn mẹ, rồi đứng lên quan sát. Ô ! Không phải là xe mới mà là chiếc xe cũ ba đã sơn sửa lại. Thu lẳng lặng xuống nhà dưới rửa mặt, thay quần áo. Đêm hôm ấy, Thu chẳng dám hỏi ba. Thu đi ngủ sớm. Giữa khuya, Thu giật mình thức giấc, cứ sợ dậy trễ. Thu ngước nhìn đồng hồ treo tường, mới mười hai giờ đêm. Thu nhắm mắt dỗ giấc ngủ. Thu chợt nghe tiếng ai khóc. Thu quay qua giường bên. Chị Mai nằm úp mặt vào gối khóc rấm rứt. Ba đang yên lặng hút thuốc bên giường. Dụi điếu thuốc vào gạt tàn, ba quay qua vuốt tóc chị Mai, giọng ba cũng nghèn nghẹn như khóc.

- Ba rất buồn, ba phải cho con nghỉ học. Gia đình ta bây giờ thật bi đát. Mẹ bệnh cả tháng nay, gia đình đang thiếu ăn. Các em con còn nhỏ, chỉ có con là lớn. Con phải phụ ba một tay. Con thông cảm cho ba, phải hi sinh để các em con học tới nơi tới chốn.

Thu hoảng hốt. Thu muốn ngồi dậy năn nỉ ba cho chị Mai đi học. Nhưng Thu không dám. Ba im lặng hút thuốc. Chị Mai cứ thút thít khóc. Thu lại chìm vào giấc ngủ…

- Thu, dậy đi học em ! Sáng rồi !

Thu tung mền chạy xuống nhà dưới rửa mặt, thay quần áo. Lên nhà, Thu thấy cặp sách của mình đã được chị Thu chuẩn bị xong. Cu Đông và cu Nhật đã đi từ lâu.

Ba dắt chiếc xe đạp ra, kêu Thu lại gần :

- Thu, con thích chiếc xe đạp để tự mình đạp đi học phải không ? Đây là chiếc xe đạp của con. Ba rất tiếc là không mua được cho con một chiếc xe mới.

Thu nhìn chị Mai, mắt chị đỏ hoe, sưng húp. Thu thấy thương chị quá. Không kìm được, Thu òa khóc :

- Ba, bây giờ con không muốn đi một mình nữa. Ba cho chị Mai đi với con !

Chị Mai vội chạy ra nhà sau, giấu mặt vào vách. Ba ôm Thu vào lòng, mắt ba rưng rưng :

- Con gái ba giỏi lắm ! Vậy là con biết rồi. Con đi học và ráng học cho giỏi để chị Hai con mừng.

Lần đầu tiên Thu đạp xe đi một mình. Bây giờ Thu chẳng còn thích con đường mới nữa. Thu chầm chậm đạp xe trên con đường nhỏ mà nhiều năm qua, mỗi ngày hai chị em đều đạp xe đi, Thu thầm nhủ : “Chị Mai ơi ! Thu thương chị quá. Thu sẽ học giỏi để bù đắp tấm lòng của chị và ba mẹ !”.

 

 


1 2 3 ... 18 19 20  Sau»